Blog của Lê Văn Luật

Đời người thì có hạn mà sự học thì vô hạn!

Thế nào là trí thức?

Danh từ “trí thức” ra đời từ 1906 cùng với cách thủ tướng Pháp Georges Benjamin Clemenceau (1906-1909) gọi bài báo của Émile Zola là “Tuyên ngôn của trí thức” (Manifeste Des Intellectuels) [1, 2], tuy nhiên gần đây vẫn còn nhiều tranh cãi về ý nghĩa của nó. Theo GS. Nguyễn Huệ Chi: “Đã là trí thức thì phải là người có tầm, có trách nhiệm và nghĩa vụ xã hội” – liệu có đúng như vậy?

Khái niệm “Trí thức”

Tiếng Anh: Intellectual
Tiếng Pháp: Intellectuel

Trong tiếng Pháp, Intellectuel ban đầu là tính từ và được dùng như danh từ kể từ bản kháng nghị năm 1898 của Émile Zola (một nhà văn, nhà báo người Pháp) gửi chính phủ Pháp trong sự kiện Dreyfus (1895-1906) và có những người cho rằng “trí thức” – với lịch sử hình thành này – gắn liền với phản biện xã hội.

Theo Oxford Advanced Learner’s Dictionary 8th, trí thức là:

a person who is well educated and enjoys activities in which they have to think seriously about things

Tạm dịch:

Trí thức là người có học thức (được giáo dục tốt) và yêu thích các công việc phải suy nghĩ nhiều về mọi vật

Theo nghị quyết 27-NQ/TW (6-8-2008) về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước:

Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội.

Có hai luồng ý kiến về nội hàm của khái niệm “trí thức”:

1/ Trí thức là người có học (và không liên quan đến phản biện xã hội)

GS. Ngô Bảo Châu: “Tôi không đồng ý với việc coi phản biện xã  hội như chỉ tiêu  để được phong hàm “trí thức”… giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội”.

2/ Trí thức là người có học và phải tham gia phản biện xã hội

GS. Chu Hảo: “Không có tư duy phản biện, không phải là trí thức.”

GS. Cao Huy Thuần: “Người trí thức là người không để cho xã hội ngủ”

GS. Nguyễn Huệ Chi: “Đã là trí thức thì phải là người có tầm, có trách nhiệm và nghĩa vụ xã hội”

Trong đó, luồng ý kiến thứ nhất được đa số xã hội tán đồng [4] trong khi khái niệm thứ hai được nhiều nhà khoa học chấp nhận.

Có hai câu hỏi đặt ra liên quan đến hai cách hiểu khái niệm trí thức ở trên:

1/ Có phải chỉ người có học mới là trí thức?
2/ Có phải chỉ trí thức mới phản biện xã hội?

Ở đây chúng ta cần tìm hiểu hai khái niệm “người có học” và “phản biện xã hội”!

Thế nào là người có học?

Nếu hiểu theo cách thông thường, “người có học” là người có bằng cấp cao.

Tuy nhiên, suy nghĩ kỹ hơn một chút, bằng cấp cao là … bằng nào? Trung cấp, cao đẳng, thạc sỹ, tiến sỹ? Không có quy định nào và cũng chẳng có mức cụ thể bất thành văn nào cho mức bằng cấp gọi là “cao”! Rõ ràng, qua mỗi thời kỳ, mức bằng cấp được xem là cao sẽ khác nhau. Ngày xưa, đậu tú tài đã là ghê ghớm lắm. Bây giờ, ở thành thị, chẳng có mấy nhà không có cử nhân. Ở những thành phố lớn, thạc sỹ là …. chuyện nhỏ!

Như vậy, người có bằng cấp cao chưa chắc đã là người có học! Ngược lại, người không có bằng cấp cao liệu có thể là người có học không? Thực tế cho thấy có nhiều người không có bằng cấp cao nhưng vẫn là những người uyên bác ví như: Bác Hồ, Albert Einstein,…

Tóm lại, người có học là người có tri thức ở một mức nhất định (không nhất thiết phải là người có bằng cấp cao).

Rõ ràng, chỉ có người có học mới có thể là trí thức – vì không có học (hoặc ít học) thì đã xếp vào các tầng lớp khác như công nhân, nông dân,…

Cũng xin lưu ý: “có học” và “có đạo đức” là hai khái niệm độc lập, tức là có thể có học mà không có đạo đức và ngược lại, có đạo đức nhưng không có học.

Thế nào là phản biện xã hội?

Theo “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội” ban hành kèm theo Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị:

“Phản biện xã hội” là việc nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Phản biện xảy ra hàng ngày trong cuộc sống và hầu như xảy ra với mọi người, nhưng phản biện xã hội (phản biện chủ trương, chính sách) chỉ xuất phát từ một số người nhất định. Đó là những người quan tâm đến các chủ trương, chính sách đó và có đủ tri thức (hiểu biết) để hiểu và tìm ra các điểm phản biện.

Người quan tâm đến các chủ trương, chính sách không ít, ngoài những người có bằng cấp, người làm việc trí óc, còn có những người dân bình thường vẫn quan tâm đến những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và họ vẫn nêu những quan điểm của riêng của họ – đó có phải là phản biện xã hội?

Nếu chỉ xét đơn thuần về hành vi thì đây là phản biện xã hội. Tuy nhiên, với phạm vi lớn của phản biện xã hội, không thể chỉ đơn thuần xét về hành vi mà cần xét cả đến tác động của hành vi đó. Nếu chỉ xét hành vi không đồng tình với chính sách của một cá nhân hoặc một vài cá nhân không có ảnh hưởng gì thì nó chỉ là những câu chuyện “trà dư, tửu hậu”. Vì vậy, đủ hiểu biết để phản biện các chủ trương, chính sách và có tác động đáng kể thì phải là người có tri thức đủ cao, đủ rộng, đủ sâu mới làm được – và đó chỉ có thể là những người có học thực sự! Tuy vậy, gần đây cũng nổi lên một số sự kiện cho thấy một số phản biện của giới có học chỉ có tác động chứ không hiệu quả.

Vài năm trở lại đây, với sự phát triển của Internet mà đặc biệt là các mạng xã hội, dường như không nhất thiết phải là người có học thực sự mới tạo nên những con sóng lớn trong xã hội. Khái niệm “cộng đồng mạng” cùng với “giới truyền thông” giờ đây thành một thế lực thực sự trong xã hội. Những câu chuyện như chặt cây xanh ở Hà Nội, lấp sông Đồng Nai,… cho thấy ảnh hưởng của cộng đồng mạng và giới truyền thông là rất lớn và rõ ràng vai trò phản biện xã hội ngày nay còn có sự tham gia mạnh mẽ của cộng đồng mạng. Cũng lưu ý rằng cộng đồng mạng có đa số là thanh niên (học sinh, sinh viên, công nhân,…) – trong đó có những người học cao, làm việc trí óc nhưng cũng có nhiều thanh niên chỉ là công nhân, buôn bán,… Như vậy, ít nhất là với sự tham gia của cộng đồng mạng, phản biện xã hội không còn là duy nhất của giới có học.

Tóm lại, “Phản biện xã hội” là việc nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Mọi tầng lớp trong xã hội đều có thể thực hiện phản biện xã hội, tuy nhiên tầng lớp có học thường có phản biện có hiệu quả hơn (không phải luôn luôn và phản biện của các tầng lớp khác không phải luôn luôn không có hiệu quả).

Nội hàm của khái niệm “trí thức”

Theo GS. Chu Hảo, trí thức có 4 thiên chức sau đây [5]:

1) Tiếp thu và truyền bá tri thức khoa học, công nghệ (KH&CN) hoặc văn hóa, nghệ thuật (VH&NT);
2) Sáng tạo các giá trị mới của tri thức KH&CN hoặc VH&NT;
3) Đề xuất, phản biện một cách độc lập các chủ trương chính sách và biện pháp giải quyết các vấn đề của xã hội;
4) Dự báo và định hướng dư luận xã hội.

Trong đó hai điểm đầu là chung cho những người lao động trí óc (người có học), hai điểm sau chủ yếu là riêng cho tầng lớp trí thức.

Theo cách hiểu này, người có học chưa phải là trí thức mà còn cần phải tham gia phản biện xã hội và định hướng dư luận xã hội.

Qua các phân tích trên, có 3 điều rút ra:

1/ Chỉ người có học thực sự mới là trí thức.
2/ Không chỉ người có học mới tham gia phản biện xã hội.
3/ Có hai luồng ý kiến: a) Người có học là trí thức b) Người có học chưa phải là trí thức mà còn phải tham gia phản biện xã hội mới là trí thức.

Vấn đề cần xem xét ở đây là mọi người có học có phải đều là trí thức?

Có lẽ lại phải quay lại từ xuất phát điểm: nguồn gốc của từ “trí thức”!

Bản thân từ “trí thức” (trong tiếng Việt) là một từ vay mượn từ tiếng Hán.

“Trí thức” (智識) gồm 智 (trí) và 識 (thức, chí), trong đó:

+ Trí (智) là

Từ điển phổ thông: trí tuệ
Từ điển trích dẫn
1. (Tính) Khôn, hiểu thấu sự lí. Trái với “ngu” 愚. ◎Như: “trí giả thiên lự tất hữu nhất thất” 智者千慮必有一失 người khôn suy nghĩ chu đáo mà vẫn khó tránh khỏi sai sót.
2. (Tính) Nhiều mưu kế, tài khéo.
3. (Danh) Trí khôn, trí tuệ, hiểu biết. ◎Như: “tài trí” 才智 tài cán và thông minh, “túc trí đa mưu” 足智多謀 đầy đủ thông minh và nhiều mưu kế, “đại trí nhược ngu” 大智若愚 người thật biết thì như là ngu muội. ◇Sử Kí 史記: “Ngô ninh đấu trí, bất năng đấu lực” 吾寧鬥智, 不能鬥力 (Hạng Vũ bổn kỉ 項羽本紀) Ta thà đấu trí, chứ không biết đấu lực.

Từ điển Thiều Chửu
① Khôn, trái với chữ ngu 愚, hiểu thấu sự lí gọi là trí, nhiều mưu kế tài khéo cũng gọi là trí.
Từ điển Trần Văn Chánh
① Thông minh, khôn, giỏi giang, tài trí: 大智大勇 Vô cùng giỏi giang và gan dạ; 足智多謀 Đa mưu túc trí, lắm mưu trí; 才智 Tài giỏi, khôn khéo;

Từ điển Nguyễn Quốc Hùng
Sáng suốt, hiểu biết nhau — Sự hiểu biết.

+ Thức (識) là:

Từ điển phổ thông:
1. ghi chép
2. văn ký sự
Từ điển Thiều Chửu
① Biết, phân biệt, thấy mà nhận biết được.
② Hiểu biết. Như tri thức 知識, kiến thức 見識, v.v.
③ Một âm là chí. Cùng nghĩa với chữ chí 誌 ghi nhớ.

Từ điển Trần Văn Chánh
① (văn) Nhớ, ghi nhớ, nhớ lấy: 博聞強識 Hiểu biết nhiều và nhớ kĩ; 小子識之 Các con hãy nhớ lấy điều đó;

Từ điển Nguyễn Quốc Hùng
Như chữ Chí 誌 — Một âm khác là Thức.

Qua đó thấy rằng, “trí thức” có nghĩa là người có kiến thức, hiểu biết (thức), có trí khôn, sáng suốt (trí)

Hiểu theo cách này, Như GS. Nguyễn Ngọc Lanh viết: “”Trí thức” gồm tài trí và thức tỉnh” [6]. Có nghĩa là, trí thức không chỉ là người có chuyên môn cao, làm việc về trí óc mà còn phải tham gia phản biện, dự báo và định hướng dư luận.

Tóm lại, trí thức là một cách gọi (danh xưng), trí thức là người có học và tham gia phản biện xã hội, định hướng dư luận – đúng như GS. Nguyễn Huệ Chi đã nói: “Đã là trí thức thì phải là người có tầm, có trách nhiệm và nghĩa vụ xã hội” hay như GS. Cao Huy Thuần nói “Người trí thức là người không để cho xã hội ngủ”.

Cách hiểu này khác với cách hiểu thông thường: trí thức là người có học (kỹ sư, giáo viên,… đều là trí thức).

Người có học nhưng không tham gia phản biện xã hội, định hướng dư luận thì chỉ gọi là người có học mà không gọi là trí thức.


[1] http://en.wikipedia.org/wiki/Intellectual
[2] http://www.merriam-webster.com/dictionary/intellectual
[3] http://dictionary.reference.com/browse/intellectual
[4] http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/dien-dan/58775/nghia-hien-nay-cua-tu–tri-thuc-.html
[5] http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/thu_tim_hieu_tang_lop_tri_thuc_viet_nam.html
[6] http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/nhan_doc_thu_tim_hieu_tang_lop_tri_thuc_vn.html

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on 30/03/2015 by in Suy ngẫm & Tìm hiểu.

Điều hướng

%d bloggers like this: