Blog của Lê Văn Luật

Đời người thì có hạn mà sự học thì vô hạn!

Khái niệm “Biên” trong Kinh tế học

Khái niệm “Biên” (còn gọi là Biên tế hoặc Cận biên) trong kinh tế học liên quan đến Thuyết cận biên (marginalism) – thuyết được xem là đã thiết lập những nền tảng cơ bản cho kinh tế học vi mô hiện đại[1].

Giá trị biên tế – Marginal value

Nguồn gốc của khái niệm “Biên” xuất phát từ khái niệm giá trị biên tế (marginal value) trong toán học:

Với Y = f(X), giá trị biên tế của Y là mức thay đổi của Y khi X thay đổi một đơn vị.

Giá trị biên tế của Y = dY/dX   (dY là lượng thay đổi của Y khi X thay đổi một lượng dX).

tức là: Khi dX đủ nhỏ (dX -> 0) thì Giá trị biên tế của Y chính là đạo hàm bậc nhất của Y theo X.

Thuyết cận biên – Marginalism

Theo Wikipedia: Marginalism is a theory of economics that attempts to explain the discrepancy in the value of goods and services by reference to their secondary, or marginal, utility.

Tạm dịch: Thuyết cận biên là một lý thuyết kinh tế học cố gắng giải thích sự khác biệt (discrepancy) về giá trị của hàng hóa, dịch vụ bằng cách tham chiếu đến lợi ích (utility) thứ cấp, hay lợi ích biên tế, của nó.

Theo [1]:

Adam Smith đã phải “vật lộn” với hai khái niệm “giá trị sử dụng” (value in use) và “giá trị trao đổi” (value in exchange). Tại sao nước rất cần thiết cho sự tồn tại và có giá trị sử dụng khổng lồ nhưng giá trên thị trường thấp (đôi khi bằng 0), trong khi kim cương là một thứ phù phiếm nhưng giá thị trường của kim cương (giá trị trao đổi) lớn hơn nước rất nhiều! Adam Smith đã thất bại trong việc phân biệt giữa hữu dụng toàn bộ (total utility, theo tôi – LVL – ta nên hiểu total utility là hữu dụng xét trên tổng thể) và hữu dụng biên (marginal utility) – đây được gọi là: nghịch lý kim cương – nước.

Hữu Dụng (utility)

Hữu Dụng (utility) được định nghĩa là mức thỏa mãn hoặc hài lòng đi cùng với những sự lựa chọn thay thế. Các nhà kinh tế cho là khi các cá nhân đối mặt với một sự lựa chọn những hàng hoá thay thế khả dĩ, họ luôn lựa chọn hàng hoá thay thế mang lại mức Hữu Dụng (utility) lớn nhất.[2]

Hữu Dụng toàn bộ (Total Utility) và Hữu Dụng biên (Marginal Utility)

Theo [2]:

+ Hữu dụng toàn bộ đi cùng một hàng hoá là mức thoả mãn có được từ việc tiêu dùng hàng hoá đó.

+ Hữu dụng biên là một cách tính Hữu dụng bổ sung có được khi tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hoá.

Để dễ hiểu, xin giải thích hơi ngược một tí (không theo sách) là:

Một người khi chưa ăn miếng bánh pizza nào thì hữu dụng toàn bộ và hữu dụng biên đều là 0. Khi người đó ăn một miếng bánh đầu tiên họ sẽ có cảm giác thỏa mãn lớn nhất (ngon nhất) – tức hữu dụng biên của miếng bánh thứ nhất là lớn nhất; khi ăn miếng thứ hai, cảm giác thỏa mãn của họ sẽ giảm đi một chút – hữu dụng biên của miếng bánh thứ hai giảm đi một chút,… đến một lúc nào đó người này không thấy ngon nữa thì nếu ép họ ăn thêm 1 miếng (giả sử là miếng thứ 6), cảm giác lúc này không phải là thỏa mãn mà là khó chịu – hữu dụng biên của miếng bánh thứ 6 là âm (<0)! – đây cũng chính là một quy luật theo thuyết cận biên: quy luật hữu dụng biên giảm dần (diminishing marginal utility). Quy luật này được cho là xảy ra với mọi hàng hóa thực sự [2].

Hữu dụng toàn bộ chính là tổng các hữu dụng biên của các sản phẩm đã tiêu dùng – tức hữu dụng toàn bộ khi chưa ăn miếng bánh nào là 0; khi ăn 2 miếng thì hữu dụng toàn bộ là tổng hữu dụng biên của miếng bánh thứ nhất và miếng bánh thứ hai.

Giải thích thuận (theo sách) là:

Hữu dụng biên đi cùng với thêm một miếng bánh chỉ là sự thay đổi về mức hữu dụng toàn bộ xuất hiện khi thêm một miếng bánh pizza được tiêu dùng. Ví dụ, hữu dụng biên của miếng bánh pizza thứ ba là 20 do hữu dụng toàn bộ tăng 20 đơn vị (từ 110 lên 130) khi miếng bánh thứ ba được tiêu dùng.

Bảng dưới đây minh hoạ mối quan hệ tồn tại giữa hữu dụng toàn bộ và hữu dụng biên trong việc tiêu dùng bánh pizza của một cá nhân (trong một giai đoạn thời gian định trước).

Thứ tự Số miếng bánh
(Q)
Hữu dụng toàn bộ
(TU)
Hữu dụng biên
(MU)
Cách tính MU
1 0 0 0 MU = 0
2 1 70 70 MU2 = TU2-TU1 = 70-0
3 2 110 40 MU3 = TU3-TU2 = 110-70
4 3 130 20 MU4 = TU4-TU3 = 130-110
5 4 140 10 MU5 = TU5-TU4 = 140-130
6 5 145 5 MU6 = TU6-TU5 = 145-140
7 6 140 -5 MU7 = TU7-TU6 = 140-145

Một cách tổng quát hơn, hữu dụng biên được định nghĩa là:

                           Thay đổi về hữu dụng toàn bộ

Hữu dụng biên = —————————————————–

                          Thay đổi về số lượng sản phẩm

Theo ví dụ trên ta thấy, hữu dụng toàn bộ chính là tổng các hữu dụng biên. Hay nói cách khác, ta có thể tính Hữu dụng toàn bộ bằng tích phân của hàm hữu dụng biên.

Lợi nhuận biên (Marginal benefit):

Lợi nhuận tăng thêm khi bán được thêm 1 sản phẩm.

Chi phí biên (Marginal cost = MC):

Chi phí tăng thêm cho việc sản xuất thêm 1 đơn vị sản phẩm. Chi phí biên không bị ảnh hưởng bởi định phí.

Doanh thu biên (Marginal revenue = MR):

Doanh thu tăng thêm khi bán được thêm 1 sản phẩm.

Tài liệu tham khảo:

[1] Marginalism tại http://www.econlib.org/library/Enc/Marginalism.html

[2] Lý thuyết lựa chọn tại  http://tuvancrm.com/07-crm-theo-nganh/08-kinh-te-tai-chinh/kinh-te-vi-m-l-thuyet-lua-chon

2 comments on “Khái niệm “Biên” trong Kinh tế học

  1. My Giap
    20/04/2015

    cảm ơn a!

  2. Ngoc Ha Nguyen
    20/05/2015

    rat cam on anh

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on 03/05/2013 by in Kinh tế học and tagged , , , .

Điều hướng

%d bloggers like this: