Blog của Lê Văn Luật

Đời người thì có hạn mà sự học thì vô hạn!

Thời gian và Lịch

Thời gian

khoảng trong đó một sự kiện hay hành động xảy ra (period during which an action or event occurs) hay có thể nói là một thước đo biểu thị sự hoàn thành một sự kiện hay hành động. Hiện nay có ba cách đo thời gian: hai phương pháp đầu dựa vào sự quay của trái đất quanh trục của nó. Các phương pháp này dựa vào chuyển động biểu kiến (apparent) của mặt trời trên bầu trời (thời gian mặt trời – Solar time) hay của các ngôi sao trên bầu trời (thời gian thiên văn). Phương pháp thứ ba đo thời gian dựa trên chuyển động quay của trái đất xung quanh mặt trời.

 Ngày (Day), trong Niên đại học (Chronology), là khoảng thời gian cần thiết cho một vòng quay của một thiên thể (Celestial body), đặc biệt là trái đất, quanh trục của nó. Khoảng thời gian này ngắn hoặc dài phụ thuộc vào việc dùng mặc trời hoặc một ngôi sao khác làm điểm tham chiếu (reference point);  Ngày thiên văn (sidereal day) – khoảng thời gian trái đất quay một vòng so với một ngôi sao nào đó (điểm tham chiếu) mà không phải là mặt trời – ngắn hơn 4 phút so với ngày mặt trời (Solar day – thời gian quả đất quay quanh mình). Ngày mặt trời, đo bởi khoảng thời gian giữa hai lần mặt trời qua thiên đỉnh (meridian passages of the sun), sự khác biệt này sinh ra do thay đổi tốc độ của quả đất trong qũy đạo của nó. Vì thế, độ dài của ngày mặt trời được tính trung bình của khoảng thời gian một năm, ngày mặt trời trung bình (mean solar day) tính theo cách như vậy được dùng trong cuộc sống bình thường và cả trong thiên văn học.

Tất cả các loại ngày đều được chia chính xác thành  24 tiếng có độ dài 1 tiếng thay đổi tỉ lệ với từng loại ngày.

Ngày nay, Ngày thường (Civil day) bắt đầu từ nửa đêm giờ địa phương. Thời cổ đại (Ancient time), ngày Babylon (Babylonian day) bắt đầu khi mặt trời mọc (sunrise) và khi mặt trời lặn (sunset) tùy theo người Athen (Athenians) hoặc người Do thái (Tews). Tới thời hiện đại, ngày thiên văn (astronomical day) bắt đầu vào chính trưa và Ngày Julian cũng vẫn bắt đầu từ chính trưa.

Theo cách thông thường, ngày được xem là thời gian có ánh sáng tự nhiên bắt đầu lúc bình minh (Dawn) và kết thúc lúc hoàng hôn (Dusk). Khoảng thời gian ánh sáng ban ngày khá ổn định khi ở gần xích đạo, thay đổi theo vĩ độ và theo mùa, dài nhất ở các vùng cực (Polar zone) vào mùa hè (do đó có hiện tượng đêm trắng hay có mặt trời nửa đêm – midnight sun).

Tại một số quốc gia, vào một khoảng thời gian trong năm, mặt trời mọc muộn hợn và lặn cũng muộn hơn do đó thời gian có ánh sáng ban ngày (daylight) sẽ bắt đầu và kết thúc muộn hơn. Đôi khi 7 giờ sáng mà trời vẫn còn hơi tối nhưng 6 giờ tối mà trời vẫn còn sáng. Để tận dụng thời gian có ánh sáng ban ngày (daylight saving), vào đầu mùa này người ta chỉnh đồng hồ tăng thêm một giờ, khi kết thúc mùa người ta lại chỉnh đồng hồ lui lại một giờ. Một giờ đó gọi là Daylight saving time (DST) hay Summer time.

Tại Mỹ, DST bắt đầu (chỉnh đồng hồ tăng thêm 1 giờ) vào lúc 2 giờ sáng ngày chủ nhật đầu tiên của tháng 4 và kết thúc (chỉnh đồng hồ lui lại 1 giờ) vào 2 giờ sáng ngày chủ nhật cuối cùng của tháng 8.

Tại Canada, DST bắt đầu vào ngày chủ nhật đầu tiên của tháng tư và kết thúc vào chủ nhật cuối cùng của tháng 8.

Tại Nga (lãnh thổ phân bố trên 11 múi giờ khác nhau), DST bắt đầu từ chủ nhật thứ tư của tháng 3 và kết thúc vào chủ nhật thứ tư của tháng 9.

Việt Nam, Trung Quốc, và nhiều nước khác không sử dụng DST.

DST sẽ làm giờ địa phương sai 1 giờ so với giờ GMT. Ví dụ, Newyork – Mỹ nằm trên múi GMT -5, Hà Nội nằm trên múi GMT +7, như vậy khi tại Hà Nội là 7 giờ sáng ngày 1/5 thì tại New là 7 giờ tối ngày 30/4 (theo giờ chuẩn) nhưng thực tế tại Newyork (do đã chỉnh đồng hồ tăng thêm 1 giờ) lúc đó trên đồng hồ là 8 giờ tối.

Nếu bạn là một hướng dẫn viên hay một lễ tân khách sạn, bạn nên để ý đến điều này nếu không có thể xe của khách sạn ra sân bay đón khách nhưng chẳng thấy ai để đón!?

 Năm (Year): Khoảng thời gian trái đất thực hiện một vòng quay quanh mặt trời. Tùy theo gốc (hay điểm tham chiếu – reference point), nên có một vài loại năm khác nhau. Năm thiên văn học hay năm dương lịch được định nghĩa là khoảng thời gian xuất hiện mặt trời trên các chí tuyến (Tropics) 23027 Bắc hoặc Nam Hạ chí tuyến (The tropic of Cancer) và Đông chí tuyến (The tropic of capricorn)) mà thường là từ xuân phân (Vernal equinox) cho đến xuân phân kế tiếp. Năm thiên văn học có chiều dài trung bình là 365,2422 ngày mặt trời hay 365 ngày, 5 giờ, 48 phút, 45,5 giây. Năm thiên văn là thời gian từ nhật thực (sun’s eclipse) của một ngôi sao tới nhật thực kế tiếp của cùng ngôi sao đó.  Nó có chiều dài 365,2563612 ngày mặt trời trung bình, hay 365 ngày, 6 tiếng, 9 phút, 9,54 giây. Năm âm lịch (12 tháng âm lịch) hay 354 ngày cũng được dùng mà đặc biệt năm lịch Do thái (Jewish) và lịch hồi giáo (Muslim).

 Tháng (Month): dựa trên chu kỳ quay của mặt trăng. Trong thiên văn học, âm lịch (lunar) hay lịch giáo (synodic), tháng là thời gian mặt trăng ở một pha quay về pha đó (ví dụ trăng tròn – full moon). Nó khoảng 29,53059 ngày. Tháng thiên văn (Sidereal motnh) là thời gian mặt trăng quay một vòng từ một ngôi sao nào đó trở lại tới ngôi sao đó (gốc là tâm trái đất); nó dài trung bình 27,32166 ngày. Loại tháng khác được dùng trong thiên văn học là tháng dương lịch (Tropical month) là thời gian quay từ một kinh tuyến trở về kinh tuyến đó, trung bình 27,32156 ngày;  tháng mặt trời (solar month), tương đương với 1/12 của năm dương lịch hay 30,43685 ngày. Tháng lịch (calendar month) là 28, 29, 30 hay 31 ngày.

Các tháng trong năm dương lịch được đặt tên theo các vị thánh:

  • Tháng 1 – January – Janus – Thánh cổng và cửa (The Roman god of gates and doors) tức là bắt đầu và kết thúc. Vào ngày 1 tháng 1, người La mã cúng tế cho Janus để ông phù hộ cho năm mới.
  • Tháng 2 – February – Xuất phát từ từ la tinh Februa là ngày lễ rửa tội (Purification) của người La mã cổ trong tháng này.
  • Tháng 3 – March – Xuất phát từ tên của Thần chiến tranh – Mars. Trước 452 BC trong lịch La mã cổ không có tháng 1 và tháng 2 và năm mới bắt đầu vào tháng 3. Năm 452 BC, vua Numa Pompilius thêm hai tháng này vào đầu năm. Ở Anh, mãi đến năm 1752 khi bắt đầu dùng lịch Gregory thì mới có tháng 1 và 2 trước đó ngày 25 tháng 3 là ngày đầu năm của họ.
  • Tháng 4 – April – xuất phát từ La mã Aprilis (từ Aperire tức Mở ra) có lẽ do nó là mùa mà cây trái đâm trồi. Người Anglo-saxon gọi tháng này là Eostre (Easter – Phục sinh).

(thông tin về nguồn gốc tên của các tháng còn lại chưa tìm được nguồn thông tin rõ ràng)

 Tuần (Week từ Latin là vicis tức thay đổi): khoảng thời gian 7 ngày mà ngày nay dùng như một đơn vị đo thời gian. Tuần xuất phát từ truyền thuyết Thánh Judeo (Judeo-Christian) yêu cầu nghỉ ngơi sau khi lao động mỗi 7 ngày, nó không phải là hiện tượng tự nhiên. Người La mã đã từng dùng tuần 8 ngày cho mãi đến năm 303 AD.

Người La mã (Roman) đặt tên cho ngày trong tuần theo sự tôn thờ mặt trời, mặt trăng và các hành tinh khác:

Người La mã (Roman) đặt tên cho ngày trong tuần theo sự tôn thờ mặt trời, mặt trăng và các hành tinh khác:

  • Thứ haiMondayMon xuất phát từ Moon (Mặt trăng). Monday = Day of the moon (ngày của mặt trăng).
  • Thứ baTuesdayTues xuất phát từ Tui (hay Tyr hay Mars) là Thần chiến tranh, con trai của Odin – Còn là tên của Sao hỏa (Mars) – Hành tinh thứ tư từ mặt trời.
  • Thứ tưWednesdayWednes xuất phát từ Woden hay Mercury – Thần của chiến tranh, thơ, ma thuật – Odin – Hành tinh gần mặt trời nhất – Còn là tên của Sao thủy (Mercury).
  • Thứ nămThursdayThurs xuất phát từ Thor hay Jupiter – Thần sấm và mưa, con trai cả của Odin, anh của Tui – Hành tinh thứ 5 kể từ mặt trời, là hành tinh lớn nhất trong hệ mặt trời – Còn là tên của Sao mộc (Jupiter).
  • Thứ sáuFridayFri xuất phát từ Frygga hay Venus – Thần tình yêu – Hành tinh thứ 2 từ mặt trời – Không kể mặt trời và mặt trăng thì Venus sáng nhất trong các hành tinh nó chính là Sao mai – Morning star – Còn là tên của Sao kim (Venus).
  • Thứ bảySaturdaySatur xuất phát từ Saturn – Thần nông – Hành tinh thứ 6 từ mặt trời, lớn thứ 2 – Còn là tên của Sao thổ (Saturn).
  • Chủ nhậtSundaySun (Sol) – mặt trời – Sun’s day.

(tên và “chức danh” các vị thần khá phức tạp, trên đây chỉ diễn giải sơ lược)

Xin lưu ý: tùy nơi mà ngày đầu tuần có thể khác nhau, Tại Việt nam thì “thứ hai là ngày đầu tuần” nhưng theo người La mã cổ thì Chủ nhật là ngày đầu tuần và đa số các nước khu vực Châu Âu, Châu Mỹ hiện nay vẫn dùng Chủ nhật là ngày đầu tuần.

Giờ chuẩn (Standard time)

Do vị trí mặt trời (đứng nhìn từ trái đất) tại mỗi địa phương (mỗi điểm khác nhau trên trái đất) sẽ khác nhau nên nếu lấy nửa đêm là bắt đầu của một ngày và là 0 giờ thì tại cùng một thời điểm giờ tại mỗi địa phương sẽ khác nhau. Để có một mốc so sánh người ta chọn giờ tại tháp đồng hồ BigBang (nằm trên toà nhà Quốc hội nước Anh, quận Greenwich, thành phố London) làm giờ chuẩn (Greenwich mean time – viết tắt là giờ GMT). Toàn bề mặt trái đất được chia thành các múi (như các múi bưởi!?), mỗi múi rộng 150 kinh ứng với 1 giờ – toàn trái đất gồm 24 múi ứng với 24 giờ (một vòng quay của trái đất quanh trục).

Vào lúc tại London, Anh, là nửa đêm (0 giờ GMT) thì tại Hà nội là 7 giờ sáng, tức chúng ta đi trước (về thời gian) so với Anh 7 giờ, như vậy giờ địa phương Hà nội lệch trước (Ahead) so với giờ GMT +7 giờ. Trong khi đó, tại Newyork là 7 giờ tối (19 giờ) ngày hôm trước tức giờ địa phương Newyork lệch sau (After) so với giờ GMT -5 giờ (giờ Newyork lệch so với giờ Hà nội -12 giờ).

Bạn có biết một điều rất “vô lý” là: khi chúng ta đang ở vào thời điểm 9 giờ sáng ngày 20/10/2002 thì tại Newyork người ta đang ở vào thời điểm 9 giờ tối ngày 19/10/2002 (9 giờ tối ngày hôm trước). Như vậy, nếu có một máy bay “siêu tốc” bay từ Hà nội sang Newyork chỉ mất 1 giây thì bạn có thể đang ở 9 giờ sáng ngày 20/10/2002 “quay lại” 9 giờ 1 giây tối ngày 19/10/2002 (bay từ Hà nội sang Newyork).

Lưu ý: Mỹ không dùng các múi giờ chuẩn mà có hệ thống múi giờ riêng gồm 10 múi giờ: Alaska Standard Time, Atlantic Standard Time, Bering Standard Time, Central Standard Time (CST), Eastern Standard Time (EST), Hawaii Standard Time, Mountain Standard Time (MST), Pacific Standard Time (PST)

 Lịch (Calendar)

Lịch là Hệ thống đo thời gian mà rất cần thiết cho cuộc sống văn  minh. Lịch tạo bằng cách chia thời gian thành các ngày, tuần, tháng và năm. Việc chia lịch dựa trên cơ sở chuyển động của trái đất và sự xuất hiện theo chu kỳ của mặt trời, mặt trăng.

Một ngày là thời gian trung bình cần thiết cho một vòng quay (one rotation) của trái đất xung quanh trục của nó.

Năm (Year)được tính trên một vòng (Revolution) trái đất quay quanh mặt trời và là năm theo mùa (seasonal), năm dương lịch (tropical) hay năm mặt trời (solar) hay Âm lịch. Một năm mặt trời dài 365 ngày, 5 tiếng, 48 phút, 45,5 giây.

Ban đầu, Tháng được tính bởi người cổ đại là thời gian giữa hai lần trăng tròn, hay số ngày mặt trăng quay quanh trái đất (29,5 ngày). Cách đo này gọi là tháng âm lịch (Lunar month) hay Tháng Synodic, chúng tạo thành năm mặt trăng hay năm âm lịch (lunar year) 354 ngày, ngắn hơn 11 ¼ ngày so với năm mặt trời. Trong lịch hiện đại, số ngày trong một tháng không dựa trên pha mặt trăng mà xấp xỉ 1/12 của năm (28 đến 31 ngày) và được điều chỉnh để tròn 12 tháng trong một năm mặt trời.

Tuần xuất phát từ truyền thuyết Thánh Judeo (Judeo-Christian) yêu cầu nghỉ ngơi sau khi lao động mỗi 7 ngày, nó không phải là hiện tượng tự nhiên. Người La mã (Roman) đặt tên cho ngày trong tuần theo sự tôn thờ mặt trời, mặt trăng và các hành tinh khác.

Do việc xác định không chính xác khoảng thời gian một năm và không thể chia chẵn một năm thành các đơn vị nhỏ hơn. Các lịch sớm nhất dựa trên mặt trăng không phù hợp với mùa. Tháng thường phải tính thêm để tương hợp tháng mặt trăng với năm mặt trời. Lịch có điều chỉnh như vậy gọi là Lịch mặt trăng – mặt trời hay Âm-Dương Lịch (Lunisolar calendar).

Việt Nam ta đang sử dụng Dương lịch và Âm-Dương lịch (đừng nhầm với Âm lịch!).

 Các lịch cổ

Người Babylon cổ đại đã có Lịch mặt trăng – mặt trời 12 tháng âm 30 ngày, và thêm các tháng phụ (extras months – tháng nhuần) khi cần thiết để duy trì lịch phù hợp với các mùa trong năm. Người Ai cập cổ (Egyptians) là những người đầu tiên thay thế âm lịch bằng lịch dựa trên năm mặt trời. Họ tính năm mặt trời bằng 365 ngày chia thành 12 tháng mỗi tháng 30 ngày (thừa 5 ngày vào cuối năm). Khoảng năm 238 BC, Vua Ptolemy III sắp xếp các ngày thừa vào mỗi bốn năm (giống như năm nhuận thời nay – leap year). Người Hy lạp cổ (Greece), lịch mặt trăng-mặt trời đã được dùng (354 ngày/năm). Người Hy lạp là những người đầu tiên thêm các tháng phụ (nhuận) vào chu kỳ năm mặt trời.

 Lịch La mã (Roman calendar)

Lịch La mã đầu tiên giới thiệu khoảng thế kỷ thứ 7 BC, có 10 tháng với 304 ngày/năm bắt đầu từ tháng ba (March). Hai tháng trước (Một và Hai – January, February) được thêm vào sau thế kỷ 7 BC, nhưng do các tháng chỉ dài 29 hoặc 30 ngày nên một tháng phụ được xen giữa mỗi 2 năm. Số ngày trong tháng đã được tính một cách vụng về: đếm ngưỡc ba ngày: hay đầu tháng (the calends – ngày đầu tháng trong lịch La mã cổ); Ngày giữa tháng (The ides) rơi vào ngày 13 của một số tháng và ngày 15 một số tháng; the nones, 9 ngày trước giữa tháng (ides). Lịch La mã đã làm xáo trộn không mong đợi khi các Chính quyền thực hiện bầu cử.

Vào năm 45 BC, Julius Caesar (Gaius Julius Caesar), theo lời khuyên của Nhà thiên văn học Hy lạp Sosigenes (thế kỷ 1 BC), quyết định dùng Lịch mặt trời chuẩn (purly). Lịch này, được biết là Lịch Julian, xác định số ngày trong năm là 365 ngày và năm nhuận (mỗi 4 năm) có 366 ngày. Có tên năm nhuận (Leap year) do ngày thêm làm cho các ngày sau tháng hai “nhảy” (Leap) thêm một ngày. Lịch Julian cũng thiết lập thứ tự tháng và ngày trong tuần như hiện nay. Vào năm 44 BC, Julius Caesar thay đổi tên của tháng Quintilis thành Julius (July), tháng Sextilis thành Augustus (August) ban vinh dự cho Hoàng đế Caesar Augustus, người nối ngôi Julius Ceasar. Một số tài liệu có uy tín cho rằng Augustus đã thiết lập chiều dài tháng mà chúng ta dùng hiện nay.

 Lịch Gregorian

Năm Julian dài hơn năm mặt trời 11 phút, 14 giây. Sai lệch này tích lũy dồn làm cho xuân phân (Vernal equinox) sớm hơn 10 ngày và các ngày nghỉ lễ (Church holidays) không đúng vào mùa phù hợp. Để điều chỉnh cho xuân phân xảy ra vào 21 tháng 3, như vào năm 325 AD (Anno Domini), năm thành lập Hội đồng tôn giáo toàn thế giới (First Council of Nicaea), Pope Gregory XIII ban hành sắc lệnh bớt lịch đi 10 ngày. Để thống nhất, Ông ta lập nên lịch mới gọi là Lịch Gregorian trong đó những năm đầu thế kỷ chia hết cho 400 sẽ là năm nhuận, tất cả các năm còn lại là năm thường, ví dụ: 1600 là năm nhuận nhưng 1700, 1800 là năm thường.

Lịch Gregorian hay Lịch kiểu mới (The New style calendar), phát triển dần sang Châu Âu. Ngày nay nó được sử dụng trên hầu hết các Quốc gia phương Tây và một số quốc gia Châu Á. Khi du nhập vào Great Britain năm 1752, có một sửa đổi điều chỉnh 11 ngày, ngày sau ngày 2 tháng 9 năm 1752 trở thành ngày 12 tháng 9. Người Anh cũng chọn ngày 1 tháng 1 làm ngày đầu năm mới. Liên Bang Xô Viết sử dụng Lịch Gregorian vào năm 1918 và Hy lạp sử dụng vào năm 1923 (sử dụng trong đời thường). Tuy vậy, rất nhiều Quốc gia gần Hy lạp vẫn sử dụng lịch Julian (hay Kiểu cũ Old style) để kỷ niệm những ngày lễ.

Lịch Gregorian cũng được gọi là Lịch Thiên chúa (Christian calendar) do nó sử dụng ngày sinh của Chúa Jesus (Jesus Christ) làm ngày khởi đầu. Ngày trong kỷ nguyên thiên chúa (Christian era) gọi là Sau công nguyên – AD (Từ Latinh là Anno domini tức “in the year of our Lord” – trong năm Thiên chúa của chúng ta) và Trước công nguyên – BC (Before christ). Ngày sinh của Chúa chính xác là ngày 25 tháng 12 năm 1 BC. Sau này còn có những thay đổi Lịch Gregorian nhưng không được sử dụng.

Gaius Julius Caesar – vào năm 45 BC, đã thiết lập lịch dựa trên năm mặt trời 365 ¼ ngày. Trong hệ thống này phần dư ¼ ngày được dồn lại sau mỗi 4 năm để tạo thành một ngày nhuận. Ngoài ra, hệ thống này dựa trên lịch Julian xác định thứ tự tháng và ngày trong tuần như ngày nay.

Ngoài các loại lịch trên còn có nhiều loại lịch Tôn giáo khác như Lịch Do thái (Jewish), Lịch Hebrew cổ, Lịch Aztec, Lịch Maya,…

Các thông tin trong bài này được tập hợp từ các bài viết tại Website của viện Việt Học, phần mềm Microsoft Encarta, phần mềm Microsoft Bookshelf, sách Almanach – những nền văn minh thế giới, sách Lịch thế kỷ.

LVL

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on 24/12/2012 by in Suy ngẫm & Tìm hiểu.

Điều hướng

%d bloggers like this: