Viết mục tiêu bài học

“Mục tiêu” được sử dụng rất nhiều trong cuộc sống cũng như trong hoạt động giáo dục. Tuy vậy, không phải ai cũng hiểu (trình bày được) và thực hiện được việc viết mục tiêu tốt (ở đây giới hạn trong lĩnh vực giáo dục).

Để viết mục tiêu tốt, ngoài việc hiểu (trình bày được) còn cần kinh nghiệm. Bài viết này chỉ trình bày về mặt kiến thức và một số ví dụ mà tôi đọc được. Về phần kinh nghiệm có lẽ chỉ có tự trải nghiệm mới tích lũy được (bản thân tôi không phải là một chuyên gia về vấn đề này). Thực tế, nhiều khi người ta cũng chỉ viết đối phó nên cũng không cần tốt!?

Mục tiêu là gì?

Theo từ điển tiếng Việt:

Mục tiêu (danh từ) là: chỗ, điểm để nhắm vào

Ví dụ: bắn trúng mục tiêu; phát hiện đúng mục tiêu

Mục-tiêu-bài-học

Theo từ điển Hán – Nôm (Trung tâm Công nghệ Thông tin Thừa Thiên Huế):

1. Cái đích nhắm.
2. Tiêu chuẩn (muốn đạt tới, trong công việc hoặc kế hoạch).
3. Địa khu hoặc địa điểm mà quân đội muốn tiêu diệt hoặc đánh chiếm.

Như vậy có thể hiểu: Mục tiêu trong giáo dục là cái đích nhắm đến của hoạt động giáo dục.

Mục tiêu khác với mục đích: mục đích thường chỉ cái chung chung, không rõ ràng – trong khi mục tiêu là cụ thể, rõ ràng.

Theo Rebert F. Mager [1], bản chất của mục tiêu trong giáo dục là “những gì người học có thể làm được”, tức là kết quả đầu ra (outcomes). Mà theo Benjamin S. Bloom [2] thì gồm: kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh, tức là mục tiêu giáo dục được mô tả bởi ba lĩnh vực là kiến thức, kỹ năng, thái độ.

Lưu ý rằng: mục tiêu giáo dục là những gì người học có thể làm được sau khi học, chứ không phải nội dung khóa học hay những gì giáo viên dự định sẽ làm.

Cấp độ mục tiêu trong giáo dục

  1. Mục tiêu tổng quát: Mục tiêu của chương trình đào tạo
  2. Mục tiêu trung gian: Mục tiêu của môn học/mô-đun
  3. Mục tiêu cụ thể: Mục tiêu phần/bài học

Tại sao cần viết đúng mục tiêu?

  • Giới hạn nội dung dạy và học: Đây là yếu tố cơ bản nhất của mục tiêu. Mục tiêu được mô tả bởi kiến thức, kỹ năng, thái độ mà học sinh sẽ đạt được sau khi học, từ đó giúp cho các đối tượng liên quan (học sinh, phụ huynh, giáo viên, nhà trường) thống nhất mục tiêu và có cơ sở chính xác để xác định phương pháp thực hiện (tương ứng với 4 đối tượng trên là: phương pháp học, phương pháp giám sát, phương pháp dạy, phương pháp đảm bảo chất lượng).
  • Giúp học sinh định hướng học tập.
  • Giúp giáo viên xác định chính xác nội dung giảng dạy (thống nhất).
  • Giúp đảm bảo chất lượng đào tạo (đánh giá đúng, đủ đối với học sinh và giáo viên).

Mục tiêu gồm có những gì?

Theo Robert F. Mager [1]: Mục tiêu gồm ba thành phần là:

  1. Một hoạt động (a performance): thực hiện bởi người học.
  2. Các điều kiện (conditions): trong các điều kiện đó người học thực hiện hoạt động trên.
  3. Tiêu chí đánh giá (criteria): các tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện hoạt động trên, hay nói cách khác là người học thực hiện hoạt động trên ở mức độ nào.

Như vậy, mục tiêu trả lời ba câu hỏi:

  1. Người học sẽ thực hiện được hoạt động gì (sau khi học xong)?
  2. Người học thực hiện hoạt động đó trong điều kiện nào?
  3. Kết quả thực hiện của người học như thế nào (ở mức độ nào)?

Magner cũng cho rằng: không nhất thiết phải có đặc tính thứ hai (điều kiện) và thực tế không phải lúc nào cũng cần phải chỉ ra đặc tính thứ ba (tiêu chí đánh giá) nhưng nếu có đầy đủ thì mục tiêu sẽ tốt hơn.

Hoạt động (performance)

Magner lưu ý: hoạt động (performance) nêu ra ở đây phải là hoạt động mà người khác có thể chứng kiến được (là người học thực hiện được hay không). Magner đưa ra hai hoạt động sau:

  1. Có thể viết một bài báo
  2. Có thể phát triển sự đánh giá âm nhạc

Hoạt động 1 là một hoạt động phù hợp trong viết mục tiêu vì người khác có thể thấy được người học thực hiện được hoạt động này hay không. Hoạt động 2 là một hoạt động mà người khác không thể thấy được người học có đạt được hay không (làm sao ta biết một người khác đã phát triển khả năng đánh giá âm nhạc của họ hay không?)!

Điều kiện (conditions)

Điều kiện cho người học biết rằng (nguyên văn của Magner):

  • Tôi có thể dùng những gì để thực hiện hoạt động trên? Ví dụ: Cho 100 que tăm và một tuýp keo, hãy làm một cái cầu treo.
  • Những gì tôi không được phép dùng? Ví dụ: Viết bảng cửu chương mà không dùng máy tính.
  • Thực hiện hoạt động đó trong hoàn cảnh nào? Ví dụ: Chạy 100m trên một cánh đồng lầy lội.

Magner cũng lưu ý: Không nhất thiết luôn phải có điều kiện, nhưng nếu có thì tốt hơn.

Tiêu chí đánh giá (criteria)

Mô tả mức độ thực hiện hoàn thành hoạt động của người học. Ví dụ:

  • Xác định được 4 trong số 5 khuyết tật sản phẩm trên dây chuyền  sản xuất đang hoạt động.
  • Đóng được 10 hộp trong 1 phút.

Magner cũng lưu ý: Thực tế không nhất thiết luôn phải có tiêu chí đánh giá, nhưng nếu có thì tốt hơn.

Mức độ thực hiện hoạt động

Theo Benjamin S. Bloom[3], một hoạt động  (cần đánh giá) có thể mô tả qua ba lĩnh vực: kiến thức, kỹ năng và thái độ.

Từ tiếng Anh gốc của B. Bloom là: 1) cognitive – nhận thức (about knowing); 2) affective – tình cảm, cảm xúc (about attitudes, feelings); 3) psychomotor – tâm vận (about doing).

Mỗi trong ba lĩnh vực trên, B. Bloom liệt kê các mức độ thực hiện khác nhau và được tóm tắt trong bảng dưới đây [2] (phía cuối bảng là thấp, phía trên bảng là cao):

MỨC ĐỘ THỰC HIỆN
Kiến thức Thái độ Kỹ năng
Đánh giá (evaluation) Tập hợp giá trị (characterization by a value complex) Tự nhiên hóa (naturalization)
Tổng hợp (synthesis)
Phân tích (analysis) Tổ chức (organisation) Liên kết (articulation)
Vận dụng (application) Hình thành giá trị (valuing) Làm chuẩn xác (precision)
Thông hiểu (comprehension) Đáp ứng (responding) Thao tác (manipulation)
Nhận biết (knowledge) Tiếp thu (receiving) Bắt chước (imitation)

Vài gợi ý sử dụng động từ khi viết mục tiêu [4]

1/ Đối với kiến thức: 

  • Mức nhận biết: nêu lên; trình bày; phát biểu; kể lại; liệt kê; nhận biết; chỉ ra; mô tả; định nghĩa; gọi tên;…
  • Mức thông hiểu: xác định; so sánh; phân biệt; phát hiện; phân tích; tóm tắt; đánh giá; cho ví dụ;…
  • Mức vận dụng: giải thích; chứng minh; liên hệ; vận dụng; xây dựng; giải quyết;…

2/ Đối với kỹ năng: viết được, vẽ được, đo được; lập được, tính được; làm được; thực hiện được; tổ chức được; thu thập được; làm thí nghiệm; phân loại được;…

3/ Đối với thái độ: tuân thủ; thán thành/đồng ý/ủng hộ; phẩn đối; hưởng ứng; chấp nhận; bảo vệ; hợp tác;…

Một vài ví dụ viết mục tiêu (sưu tầm)

  1. Bài lý thuyết “Một số chất dinh dưỡng có trong thức ăn và vai trò của chúng đối với cơ thể” (sách hướng dẫn dạy môn Khoa học lớp 4 giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ): Học xong bài này người học sẽ có khả năng:
    – Sắp xếp được thức ăn hằng ngày vào nhóm thức ăn có nguồn gốc động vật hoặc nhóm thức ăn có nguồn gốc thực vật;
    – Phân loại được thức ăn dựa vào lượng các chât dinh dưỡng chứa trong mỗi loại thức ăn;
    – Kể được tên những thức ăn có chứa nhiều chất đạm, chất bột đường, chất béo, các vi-ta-min, chất khoáng, chất xơ.
    – Trình bày được vai trò của chất đạm, chất bột đường, chất béo, các vi-ta-min, chất khoáng, chất xơ và nước đối với cơ thể.
  2. Bài lý thuyết: “Đảng công sản Việt Nam ra đời” (sách hướng dẫn dạy học môn Lịch sử lớp 5 giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ): Học xong bài này người học sẽ có khả năng:
    – Nêu được bối cảnh lịch sử dẫn đến sự thành lập của Đảng Công sản Việt Nam;
    – Nêu được vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong quá trình thành lập Đảng;
    – Trình bày được ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng;
    – Có tình cảm và lòng biết ơn đối với lãnh tụ Nguyễn Ái quốc, có niềm tin vào vai trò lãnh đạo của Đảng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
  3. Bài lý thuyết “Nước” (sách hướng dẫn dạy môn Hóa học lớp 8 bổ túc THCS): Học xong bài này người học có thể:
    – Trình bày được thành phần định tính, định lượng của nước;
    – Trình bày được tính chất vật lý của nước;
    – Viết được các phương trình hóa học thể hiện tính chất của nước;
    – Trình bày được các nguyên nhân làm ô nhiễm nguồn nước và biện pháp phòng, chống ô nhiễm;
    – Có ý thức sử dụng nguồn nước ngọt và giữ cho nguồn nước không bị ô nhiễm.
  4. Bài thực hành “Đo huyết áp” (nghề Điều dưỡng): Học xong bài này người học sẽ có khả năng:
    – Đo huyết áp của bệnh nhân thật (hoặc bệnh nhân giả định) trong tua thăm bệnh nhân thường lệ, trong thời gian 5 phút. Kết quả đo phải trong phạm vi sai số ±2 mmHg so với kết quả đo của giáo viên;
    – Huyết áp ngoài phạm vi bình thường phải báo ngay cho y tá trưởng;
    – Kết quả đo huyết áp phải được ghi rõ ràng trên phiếu bệnh nhân.
  5. Bài tích hợp “Chiết cành”: Học xong bài này người học sẽ có khả năng:
    – Trình bày được trình tự thao tác chiết cành;
    – Nêu được tác dụng của một số loại thuốc kích thích ra rễ đối với cành chiết;
    – Chiết được cành cho 2 loài cây ăn quả theo đúng qui trình và đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật đã nêu trong phiếu “Tiêu chuẩn thực hiện công việc”.

 


Việc viết mục tiêu bài học không dễ, hy vọng rằng bài viết này cung cấp được một phần nào đó kiến thức cho việc viết mục tiêu bài học (được tốt hơn).


Tài liệu tham khảo:

[1] https://www.convergencetraining.com/blog/robert-magers-performance-based-learning-objectives
[2] http://tusach.thuvienkhoahoc.com/wiki/H%E1%BB%87_th%E1%BB%91ng_ph%C3%A2n_lo%E1%BA%A1i_c%C3%A1c_m%E1%BB%A5c_ti%C3%AAu_c%E1%BB%A7a_Bloom
[3] https://lvluat.wordpress.com/2014/02/23/he-thong-phan-loai-cac-muc-tieu-cua-bloom-st/
[4] Nguyễn Đăng Trụ (viện Chiến lược và Chương trình giáo dục, Bộ GD&ĐT), bài giảng Biên soạn mục tiêu bài dạy, https://nvspdn.files.wordpress.com/2013/11/bien-soan-muc-tieu-bai-day.pdf.
[5] Nguyễn Hương Lan, Nguyễn Thị Bích Liên (2016), Nâng cao năng lực lập kế hoạch dạy học của giáo viên giáo dục thường xuyên,  NXB Giáo dục.


Có thể tham khảo thêm tại:

[1] http://www.cdkttctn.edu.vn/kinhte-taichinh-thainguyen/tin-tuc/tabid/89/CatID/147/ArticleID/2527/Default.aspx
[2] http://cdhh.edu.vn/?p_id=tin&id=ky-thuat-viet-muc-tieu-bai-giang-508
[3] https://tusach.thuvienkhoahoc.com/wiki/L%E1%BB%B1a_ch%E1%BB%8Dn_c%C3%A1ch_d%E1%BA%A1y_th%C3%ADch_h%E1%BB%A3p

Tìm hiểu về giáo dục đại cương (general education) ở Mỹ

Hệ thống giáo dục Mỹ có những khác biệt khá lớn so với Việt Nam nhưng nhìn tổng quan (cái khung) thì vẫn có những điểm tương đồng.

Hết phổ thông sẽ học gì ở Mỹ?

Ở Mỹ, sau khi học xong trung học, học sinh có thể lựa chọn học tiếp theo các hướng sau:

a/ Học nghề: đăng ký vào học các trường nghề (trades school)

Thời gian học các trường này từ vài tháng đến 2 năm. Nội dung chương trình chỉ tập trung vào các môn chuyên nghề, không học các môn khác. Lớp học thường là ít học viên do đó giảng dạy theo cách huấn luyện “cầm tay chỉ việc” (hands-on).

b/ Học 2-years college:

College ở Mỹ không phải là “cao đẳng” ở Việt Nam: college có khi dùng như là đại học (4-years college đào tạo bậc đại học, 2-years college đào tạo lấy bằng liên thông để học lên đại học,…), có khi là một trường – cũng đào tạo bậc đại học – nằm trong đại học.

Sau khi học phổ thông, học sinh có thể theo học 2-years college để lấy bằng Associate’s degree. Sau đó có thể học tiếp 2 năm để lấy bằng đại học (BA/BS) hoặc ra đi làm.

Theo hướng này có hai dạng:
+ AAS (Associate of Applied Science): học xong ra đi làm (không liên thông – vẫn có thể có một số tín chỉ có thể dùng để liên thông). Tập trung vào các môn chuyên môn.
+ AS (Associate of Science) và AA (Associate of Arts): học để liên thông lên đại học.

c/ Học 4-years hoặc 3-years college/university để lấy bằng đại học (BA/BS).

Theo cả hai dạng này thì chương trình mang tính hàn lâm, 1 hoặc 2 năm đầu học các môn chung (general education) và các môn nhập môn.

Giáo dục đại cương ở Mỹ gồm những môn học nào?

Ở lựa chọn 1 như trên (học nghề), chỉ học các môn nghề, không học các môn đại cương.

Ở lựa chọn 2 (học 2 năm), với AAS (chỉ học nghề, ra làm việc) nên không học các đại cương.

Với dạng học AS hoặc AA (sẽ học tiếp lên đại học) thì người học sẽ lựa chọn một số môn (nhà trường quy định số môn) trong một số lĩnh vực do nhà trường quy định (có trường đưa ra 5 lĩnh vực, có trường nhiều hơn).

Liberal Arts College (tạm dịch là trường “giáo dục sáng tạo”, một số nơi dịch là “giáo dục tổng quát”): Xu hướng trường liberal arts hiện nay rất phổ biến ở Mỹ (có khoảng 500 trường) với tư tưởng đào tạo ra những con người toàn diện, có khả năng thích ứng tốt. Phần giáo dục đại cương sẽ đào tạo các môn cơ bản, chung nhất.

Các nhóm môn gồm:

  • Nhân văn – bao gồm nghệ thuật, văn học, ngôn ngữ học, triết học, tôn giáo, đạo đức, ngoại ngữ hiện đại, âm nhạc, kịch, ngôn ngữ cổ điển (Latin / Greek) …
  • Khoa học xã hội – bao gồm lịch sử, tâm lý, luật, xã hội học, chính trị, nghiên cứu về giới, nhân học, kinh tế học, địa lý, tin học kinh doanh …
  • Khoa học tự nhiên – bao gồm thiên văn học, sinh học, hóa học, vật lý, thực vật học, khảo cổ học, động vật học, địa chất, khoa học Trái đất …
  • Khoa học cơ bản – bao gồm toán học, logic, thống kê, v.v.

Ví dụ phần giáo dục đại cương của đại học Washington [1]:

  1. Nghệ thuật sáng tạo
  2. Các truyền thống định hình thế giới phương Tây
  3. Kinh nghiệm toàn cầu và đa văn hóa
  4. Tổ chức xã hội và hành vi
  5. Khoa học tự nhiên và toán học

Đại học Havard [2]:

  1. Thẩm mỹ và diễn giải
  2. Văn hoá và tín ngưỡng
  3. Lý luận toán học và lý luận thực chứng
  4. Lý luận về đạo đức
  5. Khoa học về sự sống
  6. Khoa học vũ trụ, vật lý
  7. Các xã hội trên thế giới
  8. Hoa Kỳ và thế giới

Riêng đối với giáo dục thể chất (physical education), những năm 60-80 có khoảng 70% trường ở Mỹ bắt buộc học thể chất nhưng từ những năm 90 tới nay giảm dần. Hiện có khoảng 30% trường ở Mỹ bắt buộc phải học thể chất, các trường khác không bắt buộc học mà người học tự tích lũy. Tuy vậy, SHAPE America (Society of Health and Physical Educators – tạm dịch là Hiệp hội các nhà giáo dục sức khỏe và thể chất Mỹ) đang cảnh báo về việc này.

Vài suy nghĩ về giáo dục đại cương ở Việt Nam

Giáo dục đại cương ở Việt Nam được hiểu là học các môn chung.

Với hệ đại học, các môn chung đối với một số khối ngành khác nhau sẽ khác nhau.

  1. Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin
  2. Tư tưởng Hồ Chí Minh
  3. Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam
  4. Ngoại ngữ
  5. Giáo dục thể chất
  6. Giáo dục quốc phòng
  7. Một số môn khác tùy theo khối ngành (Tin học cơ sở,…)

Với hệ cao đẳng:

  1. Chính trị (Triết học, Chủ nghĩa XHKH, Tư tưởng HCM).
  2. Tin học đại cương
  3. Ngoại ngữ
  4. Giáo dục thể chất
  5. Giáo dục quốc phòng
  6. Pháp luật đại cương

So sánh với giáo dục đại cương ở Mỹ (chỉ so sánh trong phạm vi các môn theo cách hiểu về giáo dục đại cương ở Việt Nam):

  • Cả ở Mỹ và ở Việt Nam đều học ngoại ngữ.
  • Cả ở Mỹ và ở Việt Nam đều học triết học. Nhưng ở Việt Nam học Triết học Mác-Lênin, ở Mỹ học Triết học Mỹ.
  • Cả ở Mỹ và Việt Nam đều học pháp luật (có vẻ như ở Việt Nam học ít hơn).
  • Ở Mỹ không học môn Tư tưởng HCM nhưng học các tư tưởng, đường lối của các nhà lãnh đạo (tổng thống,…). Các nội dung này nằm trong nhiều nhóm môn như nhóm môn về chính phủ (Government), nhóm môn hành vi, nhóm môn lịch sử, nhóm môn luật pháp,… (tham khảo chi tiết ở [5])
  • Ở Mỹ không học Giáo dục quốc phòng.
    Lưu ý rằng từ năm 1973, Mỹ đã bỏ chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc. Thanh niên Mỹ không bắt buộc phải đi lính mà chỉ là tình nguyện (lương lính rất cao). Việt Nam nằm trong số 13 quốc gia trên thế giới có chế độ nghĩa vụ bắt buộc [8].
    Việt Nam nằm cạnh anh bạn lớn và nguy cơ xung đột vũ trang là hoàn toàn có thể xảy ra. Bình thường chúng ta không thể duy trì một lượng quân lớn (vì sẽ không có người sản xuất và sẽ tốn chi phí lớn) nhưng nếu có xung đột thì ta có thể phải đối mặt với một đội quân rất lớn. Do đó đảm bảo một lực lượng dự bị có khả năng chiến đấu là rất cần thiết.
  • Ở Mỹ có khoảng 30% các trường bắt buộc học môn thể chất. Số 70% còn lại tự rèn luyện thông qua các câu lạc bộ trong Trường – cơ sở vật chất phục vụ giáo dục thể chất trong các trường ở Mỹ rất tốt [9]. Ở Việt Nam, thể hình của người Việt còn rất nhỏ trong khi đó ý thức về rèn luyện sức khỏe khá thấp, chỉ khoảng 15% người tập thể dục nhiều hơn 30 phút mỗi ngày [6] do đó việc giáo dục thể chất bắt buộc là cần thiết. Chúng ta cũng không học theo Mỹ được vì cơ sở vật chất cho giáo dục thể chất trong các Trường học của ta còn rất yếu, chỉ khoảng 5,6% trường học có nhà thi đấu đa năng [7 – số liệu năm 2013].

Như so sánh trên, hầu như giáo dục đại cương ở Mỹ cũng giống như ở Việt Nam hiện nay. Và cũng thấy rằng những môn học này (giáo dục đại cương) là thật sự cần thiết.

——————————————————–
[1] http://www.american.edu/provost/gened/ProgramGoals.cfm
[2] https://college.harvard.edu/academics/planning-your-degree/general-education
[3] http://duhocmy24h.edu.vn/dai-hoc-o-my-khac-gi-so-voi-viet-nam-1629
[4] http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/nguoi-viet-5-chau/dai-hoc-o-my-khac-viet-nam-nhu-the-nao-2184177.html
[5] http://www.american.edu/provost/gened/AreaFour.cfm
[6] http://www.baomoi.com/mon-the-duc-co-bi-xem-nhe/c/21279623.epi
[7] http://www.tdtt.gov.vn/tabid/69/ArticleID/14742/Default.aspx
[8] https://www.academia.edu/18620109/%C4%90i_l%C3%ADnh_%E1%BB%9F_M%E1%BB%B9-Nh%C3%ACn_t%E1%BB%AB_g%C3%B3c_%C4%91%E1%BB%99_ngh%C4%A9a_v%E1%BB%A5
[9] https://www.fitness.gov/pdfs/status-of-pe-in-us.pdf

 

Dự báo với hồi quy tuyến tính đa biến trong Ms Excel

Dự báo giá trị trung bình:

Cần dự báo E(Y/X^0) khi X=X^0:

X^0=\begin{bmatrix} 1\\ X^0_2\\ X^0_3\\ .\\ .\\ .\\ X^0_k \end{bmatrix}

Khi đó ta có giá trị trung bình cần dự báo:

E(Y/X^0)=(\hat{Y_0}/X^0)=X^{0T}\hat{\beta} 

Ta cũng có:

var(\hat{Y_0}/X^0)=X^{0T}var(\hat{\beta})X^0

vì:

var(\hat{\beta})= \sigma^2(X^TX)^{-1} 

nên ta có:

var(\hat{Y_0}/X^0)= \sigma^2X^{0T}(X^TX)^{-1}X^0

Nhưng \sigma^2 chưa biết nên phải dùng ước lượng không chệch \hat{\sigma}^2

Phương sai:

var(\hat{Y_0}/X^0)= \hat{\sigma}^2X^{0T}(X^TX)^{-1}X^0

Độ lệch chuẩn:

se(\hat{Y_0}/X^0)= \sqrt{\hat{\sigma}^2X^{0T}(X^TX)^{-1}X^0}

Khoảng tin cậy (confidence interval):

\hat{Y}_0-t_{\alpha/2}(n-k)se(\hat{Y}_0/X^0) \leq E(Y/X^0) \leq \hat{Y}_0+t_{\alpha/2}(n-k)se(\hat{Y}_0/X^0)

Dự báo giá trị cá biệt:

(Y_0/X^0)=X^{0T}\hat{\beta}

var(\hat{Y_0}/X^0)= \hat{\sigma}^2[1+X^{0T}(X^TX)^{-1}X^0]

se(\hat{Y_0}/X^0)= \sqrt{\hat{\sigma}^2[1+X^{0T}(X^TX)^{-1}X^0]}

\hat{Y}_0-t_{\alpha/2}(n-k)se(Y_0/X^0) \leq E(Y/X^0) \leq \hat{Y}_0+t_{\alpha/2}(n-k)se(Y_0/X^0)

Thực hiện trong Ms Excel:

Ta có vùng dữ liệu gồm biến phụ thuộc Poverty (B2:B51) và ba biến độc lập Infant mort (D2:D51), White (E2:E51) và Crime (F2:F51). Có một cột toàn giá trị 1 thêm vào để dùng cho các tính toán.

reg02
Hình 1: Dữ liệu

Kết quả chạy hồi quy:

reg03
Hình 2: Kết quả hồi q uy

Ở đây ta không đánh giá mô hình và các hệ số mà chỉ tập trung vào tính khoảng tin cậy.

Đặt các tên vùng cho dễ tính toán (các công thức ở dưới dùng cả hai dạng – tên và địa chỉ ô):

+ Y = B2:B51 (Poverty)
+ X = C2:F51 (vùng dữ liệu 3 biến độc lập và cả cột toàn giá trị 1)
+ X0 = C52:F52 (vùng điểm dự báo). Lưu ý rằng: Trong các công thức phần lý thuyết ở trên thì X^0 là cột, trong khi ở đây là dòng – vì cho dễ nhìn trong Ms Excel. Do đó trong các công thức Ms Excel ta sẽ dùng X^{0T} chuyển vị của X^0.
+ b = I18:I21 (vùng các hệ số hồi quy).

Tính (X^{T}X)^{-1} : Vì ta có 3 biến độc lập nên vùng này sẽ có kích thước 4 dòng x 4 cột. Chọn (bôi đen) vùng I25:L28 và nhập công thức:

=MINVERSE(MMULT(TRANSPOSE(X);X)) hoặc =MINVERSE(MMULT(TRANSPOSE(C2:F51);C2:F51))

rồi nhấn tổ hợp phím Ctrl – Shift – Enter (để nhập công thức mảng).

Đặt tên cho vùng I25:L28 là D.

reg04
Hình 3: Kết quả tính toán

Tính giá trị dự báo (xem công thức trong hình 3):

+ Chọn mức ý nghĩa ∝ = 0,05 (nhập vào ô J32 và K32).
+ Giá trị dự báo (poverty) = MMULT(X0;b) = MMULT(C2:F15;I18:I21)
+ MS_{res} = K14 (chính MS của Residual – trong Hình 2)
+ df_{res} = I14 (chính là bậc tự do df của Residual – trong Hình 2)
+ t_{\alpha/2} = T.INV.T2(K32;K35) (hàm T.INV.T2 cho giá trị tới hạn của thống kê Student ở mức ý nghĩa \alpha =K32 và số bậc tự do df=K35)
+ SE cho khoảng tin cậy (confidence interval)
=SQRT(K34*MMULT(X0;MMULT(D;TRANSPOSE(X0))))   hoặc
=SQRT(K34*MMULT(C2:F51;MMULT(I25:L28;TRANSPOSE(C2:F51))))
+ SE cho khoảng dự báo (prediction interval)
=SQRT(K34*(1+MMULT(X0;MMULT(D;TRANSPOSE(X0)))))   hoặc
=SQRT(K34*(1+MMULT(C2:F51;MMULT(I25:L28;TRANSPOSE(C2:F51)))))

 

Các hàm Ms Excel dùng ở trên:

MMULT(vùng1; vùng2): nhân hai ma trận
MINVERSE(vùngô): ma trận nghịch đảo của vùngô
TRANSPOSE(vùngô): ma trận chuyển vị của ma trận trong vùngô
SQRT(giátrị): căn bậc hai của giátrị
T.INV.T2(∝; n): giá trị tới hạn của thống kê Student với mức ý nghĩa ∝ và bậc tự do n.

Crosstab Query trong LINQ

Hai cross-tab query ở dòng 53 và dòng 62.


using System.Collections.Generic;
using System.Collections.ObjectModel;
using System.Linq;
using System.Data;
using System.Windows;
using System.Windows.Controls;

namespace testLINQCrosstab
{
    ///
<summary>
    /// Interaction logic for MainWindow.xaml
    /// </summary>

    public partial class MainWindow : Window
    {
        List<DonVi> data;
        public MainWindow()
        {
            InitializeComponent();
        }

        private void Window_Loaded(object sender, RoutedEventArgs e)
        {
            data = new List<DonVi>() {
                new DonVi() { ID=1, Ten="PTCHC" },
                new DonVi() { ID=2, Ten="PKT" },
                new DonVi() { ID=3, Ten="PDT" }
            };

            data[0].CacNhanVien = new ObservableCollection<NhanVien>() {
                new NhanVien() { ID=1, Ten="An", GioiTinh=false, Tuoi=35 },
                new NhanVien() { ID=2, Ten="Hoa", GioiTinh=true, Tuoi=32 },
                new NhanVien() { ID=3, Ten="Phúc", GioiTinh=false, Tuoi=30 }
            };
            data[1].CacNhanVien = new ObservableCollection<NhanVien>() {
                new NhanVien() { ID=4, Ten="Thành", GioiTinh=false, Tuoi=30 },
                new NhanVien() { ID=5, Ten="Vy", GioiTinh=true, Tuoi=32 }
            };
            data[2].CacNhanVien = new ObservableCollection<NhanVien>() {
                new NhanVien() { ID=6, Ten="Bình", GioiTinh=false, Tuoi=37 },
                new NhanVien() { ID=7, Ten="My", GioiTinh=false, Tuoi=35 },
                new NhanVien() { ID=8, Ten="Văn", GioiTinh=true, Tuoi=38 },
                new NhanVien() { ID=9, Ten="Tú", GioiTinh=false, Tuoi=30 },
                new NhanVien() { ID=9, Ten="Thanh", GioiTinh=true, Tuoi=30 }
            };
            DataContext = data;
        }

        private void lb1_SelectionChanged(object sender, SelectionChangedEventArgs e)
        {
            var list = (lb1.SelectedItem as DonVi).CacNhanVien;
            var crosstab_gt = from t in list
                              group t by t.GioiTinh into g
                              select new
                              {
                                  GoiTinh = g.First().GioiTinh,
                                  SoLuong = g.Count()
                              };
            lb3.ItemsSource = crosstab_gt;

            var crosstab_tuoi = from t in list
                              group t by t.Tuoi into g
                              select new
                              {
                                  Tuoi = g.First().Tuoi,
                                  SoLuong = g.Count()
                              };
            lb4.ItemsSource = crosstab_tuoi;
        }
    }

    public class DonVi
    {
        public int ID { get; set; }
        public string Ten { get; set; }
        public virtual ObservableCollection<NhanVien> CacNhanVien { get; set; }
        public override string ToString()
        {
            return Ten;
        }
    }

    public class NhanVien
    {
        public int ID { get; set; }
        public string Ten { get; set; }
        public int Tuoi { get; set; }
        public bool GioiTinh { get; set; }
        public virtual DonVi DonVi { get; set; }
        public override string ToString()
        {
            return Ten + " - " + Tuoi.ToString("#") + " - " + GioiTinh.ToString();
        }
    }
}

Màn hình kết quả:

crosstab_linq

Mùa hạ (thơ Nguyễn Sĩ Đại)

Rồi cũng phải đến thôi, mùa hạ
Dẫu tơ non búp lá vẫn bồi hồi
Hoa phượng đỏ, như cái mầu phải đỏ
Anh yêu em phải cháy hết mình thôi!

Vì mùa xuân chưa kịp để nên lời
Chỉ thương mến sẽ sàng giăng trong mắt
Tơ sợi ấy có thể rồi bay mất
Đứt nối cầm tiếc nuối giữa lòng tay.

Thì cánh hoa cứ rụng xuống đất dày
Để ấp ủ hiện dần lên quả ngọt
Mùa hạ đó, mưa rào và nắng gắt
Ai qua cầu sẽ bước đến mùa thu

Ai qua cầu, thương được hết lòng nhau
Mùa hạ là mùa anh đón đợi
Trăm thương nhớ có lẽ nào sánh nổi
Ngọn lửa nồng ấm áp đã vì nhau

Ngàn hoa ơi, Xuân nhé, hãy lùi sau
Anh đã hứa đời mình cho mùa hạ
Và khi khép hàng mi vào tuyết giá
Biết thầm thì phía trước lại mùa xuân…

Nói với con (thơ Phương Thảo)

 

Con đừng suy nghĩ nhiều về chỗ đứng
Con nên nghĩ suy về cách đứng thế nào
Đứng thẳng người, chỗ thấp thành cao
Đứng khom lưng trên cao thành thấp.

Biết sống đủ luôn thấy mình sung túc
Sống tham lam giàu có hóa ra nghèo
Con đừng làm cái bóng ăn theo
Biết gieo cấy để vui mùa gặt hái

Đời là biển khổ con đừng ái ngại
Phải vượt lên để biết làm người
Hạnh phúc ở đời là tỷ số những buồn vui
Phải cóp nhặt những niềm vui nhỏ nhất

Vui thanh thản là niềm vui có thật
Vui hư danh là trò ảo ở đời
Một kiếp người ngắn lắm con ơi
Biết sống đẹp là điều không dễ

Cha nay đã như chiều bóng xế
Khôn dại ở đời đâu dám hơn ai
Nói với con chỉ một đôi lời
– Tốt mà sống sẽ có trời phù hộ!…

Thực chất GDP là gì?

Nói chung, khi phân tích vĩ mô, thì một trong những nguồn dữ liệu thứ cấp quan trọng nhất là từ thống kê nhà nước – theo nghĩa nó là thông tin chính thống – nhưng chưa chắc đã chính xác!.  Một bài viết có khá nhiều thông tin thú vị (Trong bài có nói đến SNA Việt Nam 1992 theo quyết định 183/TTg, nhưng đã có nhiều sửa đổi bổ sung theo SNA 1993 Liên hợp quốc và Tổng cục thống kê dự định sẽ xuất bản SNA mới cập nhật theo SNA 2008 của Liên hợp quốc).

Bài gốc tại: http://www.thesaigontimes.vn/30738/Thuc-chat-GDP-la-gi.html

Một bài viết liên quan cũng rất hay: https://tuanvanle.wordpress.com/2013/08/08/he-thong-cac-tai-khoan-quoc-gia-ung-dung-va-mot-so-bat-cap-o-viet-nam/

(TBKTSG) – Chỉ tiêu GDP ngày nay được nhắc đến nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong các báo cáo thành tích cuối năm ở các địa phương. GDP tăng trưởng cao thường gắn liền với sự hãnh diện, GDP tăng trưởng thấp là một sự lo âu. Nhiều nhà kinh tế “vung tay múa chân” khi bàn về con số tăng trưởng GDP, rồi hiến kế này kế nọ. Vậy thực chất GDP ở Việt Nam được tính toán thế nào?

Lịch sử ra đời của GDP

Thực ra, GDP là một chỉ tiêu trong hệ thống tài khoản quốc gia (System of National Accounts – SNA). SNA của Liên hiệp quốc được các nhà kinh tế hàng đầu thế giới, đứng đầu là Richard Stone (đoạt giải Nobel 1984) đưa ra. SNA đã tập hợp một cách hệ thống các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng nhằm mô tả, phân tích các hiện tượng kinh tế cơ bản. Hệ thống SNA mô tả quá trình chu chuyển sản phẩm và tiền tệ trong một quốc gia, nó là một tập hợp đầy đủ, phù hợp và linh hoạt các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô. Những chỉ tiêu này được xây dựng dựa trên các khái niệm, định nghĩa và quy tắc chuẩn mực được thừa nhận trên phạm vi toàn thế giới.

Hệ thống SNA phục vụ nhiều mục đích khác nhau, trong đó mục đích cơ bản là cung cấp thông tin để phân tích và hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô làm cơ sở cho các nhà quản lý và lãnh đạo các cấp giám sát, nghiên cứu, điều hành và ứng xử với nền kinh tế.

Có thể coi việc tập hợp các chỉ tiêu kinh tế đã hình thành từ thế kỷ 17. Năm 1665, Wiliam Petty và Gregory King (1688) đã đưa ra các chỉ tiêu nhằm đánh giá thu nhập quốc gia và chi tiêu dùng cuối cùng.

Vào thế kỷ 18, các nhà kinh tế Pháp theo trường phái trọng nông làm giảm khái niệm về thu nhập quốc gia do họ quan niệm chỉ có ngành nông nghiệp và khai thác trực tiếp từ thiên nhiên mới thuộc phạm trù sản xuất, tuy nhiên đóng góp của trường phái này về mặt học thuật là rất quan trọng.

Năm 1758, Francois Quesnay một thành viên của phái trọng nông đã xây dựng “Lược đồ kinh tế” (tableou economique) mô tả mối quan hệ liên ngành trong nền kinh tế, và mô hình này được xem như tiền đề của bảng I/O (input-output table) của Leontief sau này.

Adam Smith đã phê phán tư tưởng của trường phái trọng nông và đề cao vai trò của công nghiệp chế biến trong nền kinh tế. Tuy vậy, Adam Smith cũng như Karl Marx, không thừa nhận vai trò của các ngành dịch vụ trong nền kinh tế. Quan điểm này được thể hiện trong “Hệ thống các bảng kinh tế quốc dân – MPS” được áp dụng đối với các nước xã hội chủ nghĩa cho tới những năm 90 của thế kỷ 20.

Vào những thập niên 30 của thế kỷ trước, lý thuyết tổng quát của J.M.Keynes được đưa ra nhằm giải thích hiện tượng khủng hoảng kinh tế thế giới đã làm thay đổi quan niệm của các nhà kinh tế thời kỳ đó khi họ chỉ sử dụng ý niệm thu nhập quốc gia như là cách đánh giá duy nhất của một quốc gia (vấn đề này giống hệt Việt Nam hiện nay khi coi GDP như chỉ tiêu duy nhất đánh giá tình hình kinh tế của đất nước).

Dựa trên lý thuyết tổng quát của Keynes và lược đồ kinh tế của Francois Quensnay, năm 1941 Wassily Leontief đưa ra mô hình cân đối liên ngành (còn gọi là bảng I/O – được công bố trong công trình nghiên cứu “Cấu trúc của nền kinh tế Hoa Kỳ”).

Đầu những năm 1950, nhu cầu so sánh quốc tế đã thúc đẩy việc xây dựng hệ thống hạch toán quốc gia theo chuẩn mực quốc tế. Năm 1953, Hội Quốc Liên (tiền thân của tổ chức Liên hiệp quốc) xây dựng hệ thống tài khoản quốc gia đầu tiên dựa trên báo cáo của nhóm nghiên cứu trường Đại học Cambridge do Richard Stone đứng đầu. Đây cũng là phiên bản đầu tiên của Hệ thống tài khoản quốc gia, còn gọi SNA, 1953.

Sau một thời gian áp dụng, cơ quan thống kê Liên hiệp quốc đã sửa đổi và kết hợp toàn diện các lý thuyết kinh tế và công bố SNA, 1968. Phiên bản này cũng do chính Richard Stone đứng đầu nhóm sửa đổi (còn gọi nhóm Cambridge). Ông xây dựng hệ thống này với mô hình I/O là trung tâm về ý niệm cũng như cách hạch toán.

Sau đó, do kinh tế thế giới phát triển nhanh và tổ chức Thống kê Liên hiệp quốc cần thống nhất về ý niệm và định nghĩa với các tổ chức khác như WB, IMF, Ủy ban Thống kê châu Âu (EUROSTAT), Tổ chức Hợp tác và phát triển châu Âu (OECD), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)… những thành viên của các tổ chức này và chuyên gia kinh tế của các nước thành viên đã nhóm họp và SNA, 1993 ra đời.

Từ năm 1954-1975 đất nước Việt Nam chia làm hai miền thuộc hai chế độ chính trị khác nhau. Ở miền Bắc, ngành thống kê áp dụng phương pháp luận của “Hệ thống các bảng cân đối vật chất – MPS”. Ở miền Nam, Viện Thống kê thuộc chính quyền Sài Gòn áp dụng “Hệ thống các tài khoản quốc gia – SNA”. Thời kỳ 1976-1988 đất nước thống nhất, ngành thống kê áp dụng MPS cho phạm vi cả nước.

Từ 1989 đến nay, ngành thống kê Việt Nam áp dụng SNA trên phạm vi toàn quốc (ngày 25-12-1992, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 183/TTg về việc chính thức áp dụng hệ thống SNA trên phạm vi cả nước thay cho hệ thống MPS trước đây).

Những con số thiếu thông tin?

Hiện nay cơ quan thống kê Việt Nam tính toán GDP từ phía cung, tức là cộng tất cả giá trị tăng thêm của các ngành kinh tế và thuế gián thu (trừ trợ cấp, trợ giá) và hầu hết các nhà thống kê cho rằng đó cũng là ý nghĩa của GDP.

GDP theo tổng cầu cuối cùng chỉ được sử dụng như một sự đối chiếu với phía cung. Cách suy nghĩ này vẫn mang nặng ảnh hưởng về chỉ tiêu “thu nhập quốc dân” trong Hệ thống cân đối vật chất – MPS trước đây.

Từ cách tư duy này dẫn đến những phương pháp và khái niệm không đồng bộ trong các bộ phận chuyên ngành của cơ quan thống kê.

Ví dụ: giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp làm gia công như dệt may, giày da chỉ tính phần gia công, trong khi xuất khẩu lại tính cả giá trị sản phẩm. Như vậy về mặt kỹ thuật không thể cân đối vĩ mô nền kinh tế và thành tích xuất khẩu cũng chẳng có ý nghĩa gì.

Hơn nữa, khi cân đối nguồn và sử dụng GDP, phía sử dụng (demand size) bao gồm tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình, trong đó có cả chi tiêu từ nguồn chính thức và từ nguồn thu không chính thức của người dân, nhưng từ phía cung, nguồn thu không chính thức không được tính vào tổng giá trị tăng thêm.

Như vậy, sự sai số giữa nguồn và sử dụng sẽ bị dồn vào tích lũy, nhưng càng ngày tỷ lệ tích lũy tài sản/ vốn đầu tư ngày càng thấp đi. Hiện tượng này rất khó lý giải về độ chính xác của số liệu (xem bảng 1).

Ngay như về phía cung bao gồm các yếu tố rất cơ bản của nền kinh tế như lao động (L) và vốn (tư bản – capital stock), đặc biệt là chỉ tiêu vốn, cũng không được cơ quan thống kê tính đến.

Định nghĩa tổng quát nhất về đầu tư: “Đầu tư là phần sản lượng được tích lũy nhằm tăng năng lực sản xuất tương lai của nền kinh tế” (xem Sachs-Larrain, 1993). Còn vốn tại một thời điểm nào đó được định nghĩa bằng giá trị tổng các đầu tư qua các năm tính đến thời điểm đó trừ đi phần hao mòn tài sản cố định lũy kế. Theo quốc tế, để tính toán giá trị vốn tại thời điểm nào đó người ta cộng tất cả các đầu tư trước đó, rồi trừ đi khấu hao tài sản cố định hàng năm.

Một phương pháp khác để xác định giá trị của vốn tại một thời điểm nào đó người ta căn cứ vào giá thị trường hiện tại của khối lượng vốn này. Phương pháp này rất khó thực hiện bởi muốn xác định cần phải có tổng điều tra (kiểm kê) tài sản trên phạm vi toàn quốc.

Hai ý niệm cơ bản trên hoàn toàn xa lạ với cơ quan thống kê và nhiều nhà kinh tế Việt Nam. Hiện nay, cơ quan thống kê Việt Nam có chỉ tiêu “vốn đầu tư…”, nhưng thực chất chỉ tiêu này không phải vốn cũng không hoàn toàn là đầu tư. Tỷ lệ tích lũy tài sản trên “vốn đầu tư” được thể hiện trong bảng 2.

Tốc độ tăng trưởng GDP thường được tính từ GDP theo giá so sánh. Vấn đề chuyển GDP từ giá thực tế về giá so sánh là một vấn đề không đơn giản, khi Việt Nam tính GDP từ phương pháp sản xuất (là cơ bản) việc tính chuyển GDP về giá so sánh theo quốc tế cần lấy trọng số (quyền số) từ bảng I-O, nhưng một điều kỳ lạ là năm gốc mà Tổng cục Thống kê chọn lại là những năm không có bảng I-O (giá 1994).

Vậy GDP theo giá so sánh (mà từ đó tính ra tốc độ tăng trưởng) được tính toán thế nào vẫn là một câu hỏi lớn. Điều này là một khó khăn lớn cho những người sử dụng số liệu thống kê cũng như các nhà hoạch định chính sách vĩ mô.

Các chỉ tiêu cân đối trong SNA gồm tổng sản phẩm trong nước (GDP), thu nhập quốc gia (GNI), thu nhập quốc gia khả dụng (NDI) và để dành (savings) của các khu vực thể chế.

• GDP = tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình + tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước + tích lũy tài sản + xuất khẩu – nhập khẩu (phương pháp sử dụng cuối cùng); hoặc = tổng thu nhập của người lao động từ sản xuất + tổng thặng dư sản xuất + tổng khấu hao tài sản cố định + tổng thuế gián thu và thuế sản xuất khác + thuế nhập khẩu – trợ cấp cho sản xuất (phương pháp phân phối); hoặc = tổng giá trị sản xuất – tổng chi phí trung gian + thuế nhập khẩu (phương pháp sản xuất)

• GNI = GDP + thu nhập từ sở hữu thuần

• NDI = GNI + thu nhập từ chuyển nhượng hiện hành thuần

• Để dành = NDI – tiêu dùng cuối cùng