Điện thoại, Tablet và Phablet

Điện thoại di động ngày nay là một thiết bị tổng hợp nhiều tinh hoa công nghệ trong nó. Do đó đòi hỏi người muốn tìm hiểu về đei65n thoại phải có kiến thức khá rộng cả về truyền thông, viễn thông, công nghệ thông tin (phần cứng và phần mềm). Ở đây tôi cố gắng tổng hợp những gì liên quan đến điện thoại, tablet và phablet để có thể giúp mọi người chọn lựa cho mình thiết bị phù hợp cho mình khi có nhu cầu.

Các thuật ngữ thông dụng trong thực tế được in đậm, màu đỏ để dễ theo dõi.

Điện thoại và mạng di động

Chắc có lẽ chẳng ai trong chúng ta không biết “điện thoại di động” hay ‘điện thoại cầm tay” là gì!?

Sinh nhật của điện thoại di động cũng vừa qua vài ngày trước đây và điểm thú vị là nó cùng tuổi với mình!!! Điện thoại di động chính thức ra đời ngày 3/4/1973 (trước khi mình khóc đời lần đầu tiên vài tháng!!!!) và mang tên Motorola Dyna Tac do Martin Cooper sáng chế. Điểm “tuyệt nhất” so với ngày nay là điện thoại di động đầu tiên nặng gần 1Kg :), cụ thể nó nặng 790 gr, cao 25 cm (chưa tính ăng-ten)! Sau này ta có Motorola Star Tac (nắp gập) một thời “đình đám” ở Việt Nam.

Martin Cooper với Motorola Dyna Tac:

Video quảng cáo Motorola Dyna Tac: http://youtu.be/0WUF3yjgGf4

Mạng điện thoại di động có thể theo một trong hai chuẩn CDMA hoặc GSM.

Ở Việt Nam hiện nay (2013) còn 2 mạng CDMA là S-Fone (095) và EVN (), các mạng còn lại (Mobi, Vina, VietTel,…) đều dùng GSM. Điện thoại CDMA không dùng được cho mạng GSM và ngược lại, tức điện thoại S-Fone hay EVN không dùng sim Mobi, Vina,.. được và ngược lại (đa số điện thoại CDMA không có sim, thời kỳ đầu ở Việt Nam, điện thoại CDMA của S-Fone không có sim, sau này mới có). Có lẽ đây cũng là một vấn đề cốt lõi làm cho mạng CDMA không phát triển được ở Việt Nam dù có nhiều ưu điểm hơn.

Ban đầu mạng điện thoại di động chỉ làm nhiệm vụ truyền dữ liệu thoại (các cuộc gọi điện thoại) với một lượng thuê bao khá ít do đó người ta xây dựng nó dựa trên công nghệ truyền tín hiệu analog (công nghệ tương tự) và được gọi là “thế hệ thứ nhất” tức 1G (1st generation) – khoảng cuối những năm 70.

Sau đó, khi số lượng thuê bao tăng lên, người ta chuyển sang sử dụng công nghệ truyền tín hiệu digital (công gnhệ số) và được gọi là “thế hệ thứ hai” tức 2G (2nd generation) chính là thế hệ mà ngày nay chúng ta vẫn còn đang sử dụng và đó chính là chuẩn GSM. GSM chính thức ra đời từ năm 1988 do một nhóm chuyên gia châu Âu nghiên cứu (nhóm này có teên Groupe Spéciale Mobile, viết tắt là GSM) và được triển khai vào năm 1991. Chuẩn này nhanh chóng phổ biến trên thế giới nên GSM lúc được hiểu khác đi là Global System Mobile = Hệ thống thông tin di động toàn cầu. Băng tần GSM tại Việt Nam từ 900MHz đến 1800MHz.

Khi Internet và email phổ biến, nhu cầu check mail, download dữ liệu di động ngày càng cao và một chuẩn cho phép truyền dữ liệu trên mạng di động hiện tại (mạng 2G) ra đời với tên gọi GPRS (tạm dịch là dịch vụ chuyển mạch gói vô tuyến, lưu ý không nhầm với GPS là Global Positioning System = Hệ thống định vị toàn cầu). GPRS trên mạng 2G cho phép truyền dữ liệu với tốc độ 56 đến 114Kb/s (kilo bit/giây). Tốc độ này chấp nhận được cho  nhu cầu truyền dữ liệu nhỏ như check mail. Mạng 2G có GPRS còn được gọi là mạng 2.5G với ý là thế hệ chuyển giao giữa 2G và 3G. GPRS trên 2G (tức 2.5G) cho phép gửi tin nhắn MMS (tin nhắn dài hơn, có thể kèm hình ảnh,…) và dùng dịch vụ WAP (truy cập Internet). Sau 2.5G, một công nghệ cho pheép nâng tốc độ lên một chút có tên EDGE và còn được gọi là 2.75G.

Khi xuất hiện nhu cầu đàm thoại có hình (video call) và truyền dữ liệu, lướt web cao, 2.75G không đáp ứng được về tốc độ, khả năng quản lý,… nên chuẩn di động mới ra đời với tên gọi “thế hệ di động thứ ba” tức 3G (3rd generation). Mạng 3G cho tốc độ 2Mbit/s đối với thiết bị cố định hoặc di chuyển với tốc độ người đi bộ (khoảng 5Km/giờ), đạt 284Kb/s đối với phương tiện di chuyển (xe ô tô,…) – tốc độ tối thiểu đạt 200Kb/s. 3G cho phép truy cập Internet tốt, cho phép video call, truyền hình SD,…

Sau 3G, một nỗ lực nâng cao tốc độ truyền dựa trên 3G có tên HSDPA cho các tốc độ 1,8; 3,6; 7,2 và 14,4Mb/s – còn gọi là mạng 3.5G.

Hiện nay đã có những thiết bị hỗ trợ 4G (như Samsung Galaxy Note, Galaxy 4S, iPhone 5,…). Mạng 4G cho tốc độ lên đến12Mb/s (mạng LTE của Verizon tại Mỹ). Có hai chuẩn 4G hiện nay là LTE và WiMAX. 

Hiện nay ở Việt Nam, các nhà mạng vẫn cung cấp 2G là dịch vụ chủ yếu (thoại và nhắn tin) kèm theo đó có 2.5G và 3G. Việt Nam hiện chưa có nhà mạng nào cung cấp 4G. Một số nơi có 2G (vẫn gọi điện thoại được) nhưng không có GPRS (2.5G) và 3G. Một số nơi có 2G, GPRS nhưng không có 3G.

Khi bật kết nối dữ liệu (Mobile data) trên điện thoại, bên cạnh biểu tượng sóng sẽ có một chữ nhỏ có thể là 3G, G, E,  H, H+. Chữ này cho biết kết nối hiện tại (tốc độ ở đây là tốc độ trung bình):

+ G = GPRS (2.5G, tốc độ 86Kb/s)
+ E = EGDE (2.75G, tốc độ 236Kb/s)
+ 3G = 3G (tốc độ 386Kb/s)
+ H hoặc 3G+ = HSDPA 3,6Mb/s (3.5G, tốc độ 3,6Mb/s)
+ H+ = HSDPA 7,2Mb/s.

Điện thoại thông minh – Smartphone

Trước khi ra đời điện thoại thông minh, nhu cầu làm việc di động dẫn đến xuất hiện một loại thiết bị gọi là “Trợ giúp số cá nhân” – Personal Digital Assitant = PDA (khoảng những năm 1992 đến 2000). PDA thường có màn hình cảm ứng khoảng 3,5 inches và dùng bút (stylus) thường có các kết nối BlueTooth, hồng ngoại (IrDA).

Điện thoại thông minh là điện thoại di động (nghe, gọi, nhắn tin) nhưng có thêm các tính năng quản lý lịch làm việc, xem, chỉnh sửa các tài liệu và truy cập Internet. Hầu hết smartphone đều dùng màn hình cảm ứng nhập liệu bằng bàn phím mềm (bàn phím cảm ứng hiện lên trên màn hình), một số loại có thêm bàn phím cứng như O2 XDA IIs, O2 Execute,…

Chiếc SmartPhone đầu tiên của mình: HP jordana 928 (màn hình 3,5 inches, độ phân giải 240×320, cảm ứng điện trở đơn điểm, hệ điều hành Microsoft Pocket PC 2002, RAM 64MB, ROM 32MB, khe cắm thẻ nhớ loại CompactFlash)

HP Jornada 928

Điện thoại thông minh hiện nay đa số có màn hình cảm ứng từ 3,2 inches đến khoảng 6 inches dùng hệ điều hành iOS (iPhone), Android, Windows mobile, Windows Phone 7, Windows Phone 8,…

Các thông tin cần lưu ý đối với điện thoại thông minh:

1. Màn hình:

+ Cảm ứng điện dung hay điện trở: Màn hình cảm ứng điện dung cho phép dùng ngón tay chạm, phải tiếp xúc màn hình bằng da tay, không dùng được bút và móng tay. Màn hình cảm ứng điện trở có thể dùng đầu ngón tay (phần da) hoặc móng tay hoặc bút. Cảm ứng điện dung thường nhạy hơn cảm ứng điện trở. Cảm ứng điện trở không thể có đa điểm (multi-touch).

+ Cảm ứng đơn điểm hay đa điểm: cảm ứng đơn điểm tức là tại một thời điểm chỉ 1 ngón tay chạm có tác dụng, nếu chạm nhiều hơn 1 ngón thì ngón nào chạm trước có tác dụng, các ngón còn lại không có tác dụng. Cảm ứng đa điểm có loại 2 điểm (2 touch points), 3 điểm,… Thông thường là loại 5 điểm, một số điện thoại có cảm ứng đến 10 điểm hoặc vô số điểm. Thực chất cảm ứng đến 2 điểm là đủ dùng vì chủ yếu chỉ dùng để phóng to hoặc xoay hình nên chỉ cần đến 2 điểm. Các thao tác chuẩn trên màn hình cảm ứng là tab, double-tab, spread, pinch, rotate cũng chỉ cần đến 2 điểm. Chỉ một số ít ứng dụng cần đa điểm như ứng dụng cho dùng điện thoại làm Piano cần 10 điểm (10 ngón tay). Thường thì điện thoại có màn hình cảm ứng càng nhiều điểm càng đắt.

+ Kích thước màn hình: kích thước màn hình smartphone thường từ 3,2 inches (tính theo đường chéo màn hình). Kích thường màn hình càng lớn càng dễ lướt web, soạn thảo. Tuy nhiên màn hình càng lớn càng tiêu hao nhiều điện năng (mau hết pin) và khó mang (khoảng 5 inches là khá khó bỏ vào túi cũng khó đeo bao vì to quá, phải cầm tay). Kích thước màn hình thường gặp là: 3,2 inches (LG GT540, HTC Wildfire S, Samsung Torino, Nokia Asha 311, Sony Experia Tipo,…); 3,5 inches (iPhone 4,…), 4.0 inches (iPhone 5, Sony Ericson Lt22, HTC 8s, Samsung Galaxy S Duos, Sony Experia J, LG Optimus L5, Nokia Lumia 520,…) 4,3 inches (Sony Epxeria V, HTC 8x, Nokia Lumia 820, LG optimus L7,…), 4,5 inches (Nokia Lumia 920,…), 5,0 inches (Samsung Galaxy S4, HTC Butterfly,…)

+ Độ phân giải màn hình: độ phân giải màn hình tính theo số điểm ảnh (pixel) theo bề ngang và bề dọc màn hình. Các độ phân giải thường gặp: các dòng bình dân thường có độ phân giải 320 x 240 hoặc 320 x 480; iPhone 4 có độ phân giải 640 x 960; iPhone 5 có độ phân giải 640 x 1136, Samsung Galaxy Note 2 (5,5 inches) có độ phân giải 720 x 1280. Độ phân giải càng cao hình ảnh càng mịn, nhiều chi tiết và đẹp. Độ phân giải tivi (truyền hình SD) là 720 x 576, HD là 1280 x 720 và Full HD là 1920 x 1080.

Lưu ý rằng: độ phân giải cao chưa chắc hình đã mịnvì còn phụ thuộc kích thước màn hình. Cùng độ phân giải thì màn hình lớn hơn sẽ có mật độ điểm ảnh (tính bằng PPI = Pixel per Inch) lớn hơn do đó thô hơn, hình không mịn. Ví dụ: Samsung Galaxy Note 2 có kích thước 5,5 inches với độ phân giải 720 x 1280 tức mật độ điểm ảnh là 267 PPI, Galaxy S3 có màn hình 4,8 inch với cùng độ phân giải, có mật độ điểm ảnh là 306 PPI do đó màn hình Galaxy S3 mịn hơn so với Note 2.

+ Loại tấm nền và công nghệ: tùy hãng mà công nghệ màn hình có những khác biệt. Một số công nghệ thường gặp là: TFT, TFT tấm nền IPS, Super-LCD2, Super-LCD3, NOVA, ClearBlack AMOLED, Super AMOLED. Trong đó màn hình TFT tấm nền IPS được xem là tốt (sáng hơn, góc nhìn rộng hơn, độ tương phản tốt, tiêu thụ ít điện năng). Công nghệ NOVA của LG được phát triển từ TFT IPS là công nghệ tốt nhất.

Thứ tự (khá tương đối): NOVA trên LG Optimus, TFT IPS Retina trên iPhone, Clearblack AMOLED (Nokia N7), Super OMOLED trên Samsung Galaxy S.

Cũng lưu ý rằng màn hình TFT IPS của iPhone là do LG (Hàn Quốc) sản xuất nên màn hình iPhone không bằng các điện thoại cao cấp của LG. Cụ thể, dòng LG Optimus black dùng công nghệ NOVA cho độ sáng lên tới 700 nits (cd/m²) trong khi màn hình iPhone chỉ đạt 500 nits.

2. Vi xử lý

Vi xử lý là thành phẩn cơ bản quyết định tốc độ hoạt động của máy. Vi xử lý càng mạnh thì máy hoạt động càng nhanh, mượt. Tuy vậy, vi xử lý khá khó so sánh. Thường chỉ có thể so sánh khả năng của vi xử lý bằng các bài test chuyên biệt. Với các điện thoại thông thường chỉ dùng cho các chức năng thoại, lướt web, quản lý thông tin cá nhân (email, lịch làm việc,…) thì không cần vi xử lý cao. Nếu dùng điện thoại cho các chức năng giải trí như quay phim Full HD, xem phim, chơi các game 3D… thì cần vi xử lý mạnh. Vi xử lý mạnh hay yếu thường nhận biết qua số nhân và tốc độ.

Ví dụ: Samsung Galaxy Note 2 (14 triệu) dùng chíp Quad-core (4 nhân) ở tốc độ 1,6GHz; Samsung Galaxy S3 (13 triệu) dùng chip Quad-core 1,4GHz, Samsung Galaxy S4 dùng chip 8 nhân 1,6GHz; Nokia Lumia 920 (14 triệu) dùng chip Dual-core 1,5GHz; iPhone 5 (16 triệu) dùng chíp Dual-core (2 nhân) 1,2GHz.

3. Hệ điều hành

Có nhiều hệ điều hành cho điện thoại thông minh nhưng các hệ điều hành sau đây đang phổ biến:

+ iOS: do Apple thiết kế. Hệ điều hành này chỉ họ nhà iPhone, iPad dùng.  Thư viện ứng dụng khá nhiều.

+ Android: do google thiết kế. Nhiều hãng điện thoại dùng như Samsung Galaxy, LG Optimus,… Android yêu cầu phần cứng thấp, có khả năng tùy biến màn hình chính (Home screen) nên được nhiều hãng điện thoại sử dụng đặc biệt là các điện thoại giá rẻ (cấu hình thấp). Thư viện ứng dụng khá nhiều (bằng iOS).

+ Windows mobile (bản cao nhất là 6.5): Do Microsoft thiết kế, hiện nay hầu như không còn. Thế hệ sau nó là Windows Phone 7 (cũng ít còn). Các điện thoại mới không còn dùng các hệ điều hành này mà dùng Windows Phone 8, tuy vậy vẫn còn khá nhiều smart phone trước đây (hiện còn nhiều người dùng) dùng Windows Mobile. Tiền thân của  Windows mobile là Microsoft Pocket PC.

+ Windows phone 8: do Microsoft thiết kế. Hiện đã có khá nhiều điện thoại dùng hệ điều hành này. tuy nhiên, thư viện ứng dụng cho Windpws Phone 8 còn khá ít (so với Android và iOS).

Việc dùng hệ điều hành nào thường chỉ phụ thuộc vào thói quen (trước đó đã sử dụng hệ điều hành nào) và tính … tò mò (chịu khó khám phá hay không).

Về mặt kỹ thuật, nhiều người đánh giá cao iOS (trên iPhone, iPad) vì khả năng điều khiển tốt, dễ điều khiển. Tuy nhiên, với những người quen làm việc trên máy tính bàn và thích “vọc” thì iOS hơi “kín” tức không cho nhiều tùy biến. Đây là điều tất yếu tương tự như so sánh giữa hệ điều hành Linux với Windows trên máy bàn. Các hệ điều hành dễ cho người dùng phổ thông thì ít tùy biến nên người dùng chuyên sâu không thích.

4. Bộ nhớ

Các điện thoại (cũng như máy tính bảng) luôn có 2 loại bộ nhớ:

+ ROM: phần lưu hệ điều hành của máy. Dung lượng ROM đương nhiên được thiết kế đủ để lưu hệ điều hành của máy nhưng phần mềm cài thêm thì có thể thiếu. Nói chung dung lượng ROM không được quan tâm nhiều lắm đối với những người sử dụng điện thoại thông thường chỉ dùng ROM chuẩn. ROM cũng là nơi cài đặt phần mềm nên lượng ROM lớn cho phép cài được nhiều phần mềm.

+ RAM: lượng RAM càng lớn thì máy hoạt động càng mượt (không bị “đơ” máy).

+ Thẻ nhớ gắn ngoài: các điện thoại thường có khe cho phép cắm thêm thẻ nhớ. Tùy điện thoại mà dung lượng thẻ nhớ tối đa khác nhau. Thông thường những điện thoại bậc trung hiện nay đều hỗ trợ thẻ nhớ tới 32GB, các dòng điện thoại cao cấp hỗ trợ tới 64GB,… Thẻ nhớ thường dùng là SDHC (thường vẫn gọi là SD) hoặc Micro SDHC (thường gọi là Micro SD). Thẻ nhớ có dung lượng 2GB, 4GB, 8GB, 16GB, 32GB, 64GB, 128GB,… Ngoài dung lượng, tốc độ truy cập dữ liệu của thẻ rất quan trọng. Các tốc độ thường gặp: Class 4, Class 6, Class 10 (cao nhất hiện nay). Nếu điện thoại có chức năng quay phim Full HD thì phải mua thẻ Class 10 mới quay mịn được. Cùng thẻ 32GB nếu Class 4 giá chỉ 510.000đ, nhưng Class 10 giá 700.000đ (giá còn tùy hãng). Trên thẻ thường có tên hãng (như Apacer, Transcend, SanDisk,…) và một con số (thường nằm trong vòng tròn) cho biết thẻ là class mấy.

5. Kết nối

Các kết nối trên smartphone có hai dạng: kết nối không dây và kết nối có dây.

Các kết nối không dây gồm:

+ Hồng ngoại (IrDA): kết nối này hiện nay ít dùng. Kết nối hồng ngoại cho phép hai máy trao đổi dữ liệu trong khoảng cách gần (cách khoảng 20cm và hai cổng hồng ngoại trên hai máy phải nhìn thấy nhau). Ngoài ra, với điện thoại có cổng hồng ngoại có thể dùng phần mềm thích hợp để điều khiển ti-vi, máy lạnh,… (thay cho mọi rmote trong nhà :)) – tuy nhiên khoảng cách không được xa lắm.

+ Bluetooth: cho phép trao đổi dữ liệu giữa điện thoại và điện thoại khác hoặc thiết bị khác có bluetooth (máy tính, tai nghe,…). Phạm vi cho phép từ khoảng 10m đến 100m (tùy theo chuẩn). Chuẩn cao nhất hiện nay là Bluetooth 4.0. Chuẩn thông dụng trong các thiết bị hiện nay là Bluetooth 3.0 cho tốt độ tối đa 24Mb/s trong bán kính tốt nhất là 10m.

Hầu hết smartphone đều có bluetooth 3.0 (iPhone 4 vẫn chỉ dùng bluetooth 2.1). Các cửa hàng thường không ghi rõ chuẩn bluetooth.

+ WIFI: WIFI là chuẩn kết nối khá thông dụng và hầu như ta được dùng miễn phí (ở quán café, trong trường học, ở cơ quan, sân bay,…) – duy nhất khi ta di chuyển trên đường là không thể có WIFI. WIFI có các chuẩn sau a, b, g, n. Tất cả các điện thoại hiện nay đã có WIFI thì chắc chắn tối thiểu phải đạt chuẩn g (tức là đã đạt cả chuẩn a, b và g). Đa số smartphone đều hỗ trợ chuẩn n (cho tốc độ cao và ở khoảng cách xa hơn vẫn bắt được). Một số điện thoại (rất ít) chỉ hỗ trợ đến chuẩn g. Điện thoại WIFI là thiết bị cuối (thiết bị sử dụng), để có WIFI cần có bộ phát (WIFI Access point). Dựa trên WIFI, chuẩn WIFI Direct cho phép kết nối trực tiếp hai điện thoại cùng hỗ trợ chuẩn này mà không cần Access point. Đa số các điện thoại cao cấp đều hỗ trợ WIFI Direct ngoại trừ iPhone (cả iPhone 5).

+ GPRS: hầu hết các điện thoại thông minh hiện nay đều hỗ trợ GPRS (2.5G).

+ EDGE: hầu hết các điện thoại thông minh hiện nay đều hỗ trợ EDGE  (2.75G).

+ 3G: hầu hết các điện thoại thông minh hiện nay đều hỗ trợ 3G. Tuy nhiên cần tìm hiểu chính xác máy hỗ trợ 3G hay 3G+ còn gọi là HSDPA (3.5G) tức tốc độ đạt 3,6Mb/s hay 7,2Mb/s.

+ NFC: đây là một chuẩn trao đổi thông tin mới trong phạm vi cực gần (khoảng 4cm) với tốc độ tối đa 424Kb/s. Do chỉ có tác dụng trong phạm vi cực gần nên đây là kết nối không cần chứng thực (kiểm tra an toàn). Ứng dụng chủ yếu trên điện thoại là trao đổi thông tin giữa 2 điện thoại, giữa điện thoại và loa di động,…

Các kết nối có dây gồm:

+ USB: đa số điện thoại thông minh hiện nay đều có kết nối USB mini.  Kết nối này cho phép sạc điện cho máy đồng thời kết nối máy với máy tính. Một số điện thoại hỗ trợ USB OTG (On-The-Go) cho phép kết nối đĩa USB, chuột, bàn phím không dây,… với điện thoại.

+ Kết nối âm thanh: kết nối tới tai nghe có dây. Đa số điện thoại hiện nay đều dùng jắc 3,5mm phù hợp với các tai nghe thông dụng ngoài thị trường kể cả loại tai nghe chụp đầu. Một số điện thoại dùng jắc cắm tai nghe 2,5mm nhỏ hơn nên chỉ dùng được với loại tai nghe đầu nhỏ.

6. Pin

Pin là thứ quan trọng nhất trên thiết bị di động vì nó quyết định thiết bị của ta “di động” được bao lâu.

Hai thông số liên quan đến pin ta có thể biết là công nghệ và dung lượng.

+ Công nghệ pin: các công nghệ pin trên thiết bị di động gồm NiCad (Nickel-Cadmium), NiMH (Nickel-Metal Hydride), Li-Ion (Lithium-Ion) và mới nhất là Li-Po (Lithium-Polymer). Hai loại NiCad và NiMH hầu như không còn do đặc điểm không thể sạc nhồi (phải hết pin mới sạc được nếu không sẽ hư pin) và kích thước lớn. Loại pin thông dụng nhất hiện nay là Li-Ion, một số điện thoại cao cấp mới ra dùng Li-Po có kích thước nhỏ hơn so với Li-Ion giúp cho điện thoại mỏng hơn.

+ Dung lượng pin: dung lượng pin đo bằng Mili-ampere/giờ (mAh). Điện thoại có màn hình các lớn, độ phân giải càng cao thì càng tốn điện nhiều do đó càng cần pin dung lượng lớn. Tuy vậy, điện thoại mau hết pin hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Các yếu tố làm pin mau hết gồm: độ sáng màn hình (độ sáng càng cao thì càng mau hết pin), các kết nối như WIFI, Bluetooth, 3G có bật hay không. Ngoài ra, tùy thuộc loại điện thoại mà mức độ hao pin khác nhau. Các loại điện thoại cao cấp có cơ chế quản lý điện năng tốt hơn nên ít hao pin hơn. Trong pin Li-Ion có một vi xử lý làm nhiệm vụ quản lý quá trình nạp, xả điện. Pin “xịn” có thuật toán quản lý tốt hơn thì pin bền hơn.

Điều quan trọng nhất là ta sử dụng gì! Nếu xem phim thì pin sẽ mau hết, nghe nhạc, lướt web cũng tiêu tốn pin nhiều. Nếu chỉ nghe, gọi thì tốn ít pin nhất.

7. Camera

Trước hết phải khẳng định camera trên điện thoại chỉ là đồ chơi. Lý do: ảnh khi chụp điều kiện ánh sáng yếu sẽ xấu dù có flash (vì flash trên điện thoại có công suất rất thấp).

Điện thoại thông minh hiện nay thường có 2 camera. Camera sau để chụp ảnh, quay phim; camera trước để gọi điện thoại có hình hoặc chat có hình. Cũng vì vậy nên camera sau thường có chất lượng cao hơn camera trước. Vì nếu có thiết kế camera trước chất lượng cao thì cũng không đủ dung lượng đường truyền để truyền.

Camera thường được xem xét trên hai thông số: bao nhiêu Mega Pixel và có flash hay không. Với hình ảnh thông thường để đưa lên facebook, blog hoặc rửa ảnh cỡ 16 x 9 (loại to bằng bàn tay) thì chỉ cần camera 3 Mega Pixel là đủ. Lượng Pixel càng lớn thì ảnh càng phóng được to mà không bị rỗ ảnh. Số mega pixel không nói lên chất lượng ảnh.

Chất lượng ảnh phụ thuộc vào cảm biến và ống kính của camera.

Máy tính bảng – Tablet

Máy tính bảng là một thiết bị lai giữa smartphone và laptop tức nó có khả năng di động như smartphone nhưng có gần đủ tính năng như laptop.

Máy tính bảng hiện nay thường có màn hình cảm ứng từ khoảng 7 inches đến 11 inches.

Máy tính bảng cũng có thể có bàn phím cứng (không liền máy, gắn thêm bên ngoài). Bàn phím gắn thêm thường được gọi là “đế” (tiếng Anh là Dock). Loại máy này được gọi là Convertible (Chuyển đổi được, với ý là có thể chuyển được từ tablet sang latop). Điển hình cho dòng này là Asus Transfomer, Acer Iconia Tab W, Microsoft surface. Một số máy convertible có thêm pin ở đế.

Đồng chí Acer Iconia Tab W501 của mình (convertible): chip Atom, màn hình cảm ứng đa điểm 10.1 inches, Windows 8 Pro, 0,97Kg (khá nặng, nằm mà cầm thì mỏi tay lắm), dock không có pin, bàn phím chuẩn, có cổng mạng RJ45 (cái này hay) và 2 cổng USB chuẩn, có trackpoint:

558535

Máy tính bảng cũng có những đặc tính tương tự như điện thoại thông minh chỉ có một số khác biệt sau:

Các hệ điều hành thông dụng trên máy tính bảng gồm:

1. iOS: chỉ có trên iPad (và iPad cũng chỉ có thể dùng iOS). Có nhiều ứng dụng trong kho ứng dụng. Không cho tùy biến màn hình chính (Home screen).  Không phù hợp cho làm việc với các file văn bản, trình chiếu, bảng tính,… vì đa số các văn bản làm trên máy bàn đều dùng Microsoft Office, khi mở trên iOS thường bị … biến dạng. Các thao tác điều khiển trên màn hình cảm ứng của iOS khá khó đặc biệt với những người quen làm việc trên máy tính bàn.

2. Android: tương tự như iOS, có rất nhiều thiết bị dùng Android do Android không yêu cầu phần cứng cao. Android còn cho phép tùy biến màn hình chính (Home screen) theo ý thích cá nhân.

3. Windows 8 RT: hệ điều hành cho tablet mới ra của Microsoft. Khá đẹp, nhiều tính năng thú vị. Tuy nhiên thư viện phần mềm còn ít. Không tùy biến được màn hình chính. Windows 8 RT có một ưu điểm với ai hay phải làm việc di động với các file tài liệu Office (Word, Excel, Power Point,…) vì RT có Ms Office 2013 giống hoàn toàn Office 2013 trên máy bàn. Các ứng dụng trên Windows 8 RT gọi là Windows 8 App để phân biệt với các ứng dụng desktop truyền thống trên máy bàn ở các thế hệ Windows trước. Các ứng dụng Desktop không chạy được trên Windows 8 RT. Ví dụ: hiện nay Yahoo chưa có Yahoo messenger app cho Windows 8 nên với máy cài Windows 8 RT ta phải dùng các phần mềm khác như IM+ và không thể chat video bằng nick Yahoo được. Đặc biệt các phần mềm chuyên môn như PhotoShop, AutoCad, SPSS,… đều chưa có (và có lẽ sẽ còn rất lâu nữa mới có) bản App cho Windows 8 nên không thể chạy trên máy Windows 8 RT.

4. Windows 8 Professional: một số máy tính bảng convertible có thể dùng Windows 8 pro. Windows 8 pro cho phép cài đặt và chạy cả các ứng dụng desktop truyền thống. Ví dụ có thể cài PhotoShop, AutoCAD,… trên máy tính bảng.

Khi chọn lựa Tablet cũng cần lưu ý những đặc điểm như với smartphone. Trong đó cần đặc biệt lưu ý:

1. Có những kết nối nào: đa số tablet đều hỗ trợ WIFI nhưng nhiều tablet không có 3G

2. Hệ điều hành

3. Màn hình: cảm ứng bao nhiêu điểm, nhạy hay không, bao nhiêu inch, độ phân giải bao nhiêu, sáng hay không (đặc biệt khi ở ngoài trời).

4. Có khe cấm thẻ nhớ ngoài hay không, khe cắm thẻ nhớ hỗ trợ thẻ đến bao nhiêu

5. Nhiều tablet dùng đĩa cứng SSD để lưu trữ nên phải so sánh dung lượng đĩa SSD là bao nhiêu (thường là 32GB, 64GB, 128GB)..

6. Dung lượng pin bao nhiêu.

Cũng lưu ý: trên nhiều trang web có ghi tablet có USB 3G – điều này có nghĩa là phải cắm USB 3G mua ngoài vào cổng USB của Tablet chứ bản thân tablet không có 3G.

Phablet

Một khái niệm mới xuất hiện chưa đầy 1 năm trở lại đây là Phablet (chưa biết dịch sang tiếng Việt thế nào!!!). Phablet là ghép của Phone-Tablet ý nói là điện thoại nhưng to như … tablet!!! Cụ thể là điện thoại thông minh có màn hình khoảng từ 6 inches trở lên thì được gọi là Phablet.

Một số sản phẩm dòng này như: Asus PhonePad (7 inches), Samsung Galaxy Tab,…

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s